The Holy See
back up
Search
riga

PONTIFICIO CONSIGLIO DELLA GIUSTIZIA E DELLA PACE

 

* Nguyên tác:
Compendium of the Social Doctrine of the Church
Copyright 2004
Libereria Editrice Vaticana
* Được sự chấp thuận của Nhà Xuất Bản

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Của Đức Hồng y Angelo Sodano,
Quốc Vụ Khanh
Bộ Trưởng Ngoại giao Toà Thánh Vatican
Phủ Quốc Vụ Khanh         Vatican, ngày 29-06-2004
N. 559.332
Kính gửi Đức Hồng y Renato Raffaele Martino,
Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh

 

Đức Hồng y kính mến,

Suốt ḍng lịch sử Giáo Hội và đặc biệt trong mấy thế kỷ gần đây, Giáo Hội – theo lời Đức Lêô XIII – đă không ngừng nói lên tiếng nói của ḿnh về những câu hỏi liên quan đến cuộc sống trong xă hội. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă tiếp tục công bố và cập nhật di sản về Học thuyết Xă hội Công giáo. Về phần ḿnh, ngài đă công bố ba thông điệp quan trọng – Laborem Exercens, Sollicitudo Rei Socialis và Centesimus Annus – tŕnh bày những bước cơ bản của tư tưởng Công giáo trong lĩnh vực này. Nhiều giám mục trên toàn thế giới trong giai đoạn gần đây đă đóng góp những hiểu biết sâu xa hơn về Học thuyết Xă hội Công giáo qua các công tŕnh của họ. Vô số những học giả trên các lục địa cũng vẫn đang làm như vậy.

1. V́ thế, chúng ta hy vọng rằng một bản tóm lược thu thập tất cả các chất liệu trên và tŕnh bày một cách hệ thống, sẽ giới thiệu những điều cơ bản của Học thuyết Xă hội Công giáo. Thật đáng ca ngợi khi Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh đă đảm nhận nhiệm vụ này và đă cố gắng hết sức ḿnh cho công tŕnh trong những năm gần đây.

Tôi rất vui mừng khi thấy cuốn “Tóm lược Học thuyết Xă hội của Giáo hội Công giáo” được xuất bản, và cùng chia sẻ với Đức Hồng y niềm vui mừng được trao gửi tập sách đến tất cả tín hữu và những người thiện chí như một thứ lương thực cần thiết để phát triển nhân cách và tinh thần, cho mọi cá nhân và mọi cộng đồng.

2. Tài liệu này cũng tŕnh bày giá trị của Học thuyết Xă hội Công giáo như một phương tiện để rao giảng Tin Mừng (x. Centesimus Annus, 54), bởi v́ tài liệu này đặt con người và xă hội trong mối tương quan với ánh sáng Tin Mừng. Những nguyên tắc của Học thuyết Xă hội Công giáo đặt nền tảng trên luật tự nhiên, v́ thế được xác nhận và củng cố trong niềm tin của Giáo Hội nhờ Tin Mừng của Đức Kitô.

 Dưới ánh sáng soi đường như vậy, mọi người, nam cũng như nữ, trước hết được mời gọi tự khám phá chính ḿnh như những hữu thể siêu việt, trong mọi chiều hướng của cuộc sống, bao gồm tất cả những ǵ có liên quan đến mọi nội dung xă hội, kinh tế và chính trị. Niềm tin mang đến cho gia đ́nh một ư nghĩa đầy đủ, ư nghĩa này đặt nền tảng trên cuộc hôn nhân giữa một người nam và một người nữ để làm nên tế bào đầu tiên và vô cùng quan trọng của xă hội loài người. Hơn  nữa, chính niềm tin toả ánh sáng trên vinh quang của lao động, mà khi hoạt động của con người nhắm mục tiêu đem đến sự sung măn cho chính con người, th́ lao động này vừa chiếm vị trí ưu tiên so với vốn liếng tiền bạc con người bỏ ra và vừa xác định quyền lợi chính đáng của con người trong việc chia sẻ những thành tựu do lao động đó làm ra.

3. Qua bản Tóm lược này, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của các giá trị đạo đức đặt nền móng trên luật tự nhiên được ghi khắc trong lương tâm của con người; v́ thế, mỗi lương tâm con người bắt buộc phải nh́n nhận và tôn trọng luật tự nhiên này. Nhân loại ngày nay đi t́m một thứ công lư lớn hơn phù hợp với hiện tượng toàn cầu hoá; nhân loại có sự quan tâm sâu sắc về sinh thái và một sự quản lư đúng đắn đối với những công việc chung; nhân loại cũng cảm thấy cần phải bảo vệ những ư thức thuộc về dân tộc mà không mất đi tầm nh́n về con đường dẫn đến luật pháp và nhận thức về sự đoàn kết toàn thể gia đ́nh nhân loại. Thế giới lao động, đă thay đổi sâu xa nhờ những tiến bộ kỹ thuật hiện đại, đang giúp cho con người nhận ra những mức độ lạ lùng về mặt phẩm chất của lao động, nhưng tiếc thay cũng cho con người thấy những h́nh thức bất ổn mới, những phương thức bóc lột mới, và ngay cả sự nô lệ bên trong những xă hội được coi là giàu có sung túc. Tại những vùng khác nhau trên hành tinh này, mức sống sung túc tiếp tục phát triển, nhưng cũng vẫn có một sự gia tăng đầy sợ hăi con số những người rơi vào cảnh nghèo đói, và v́ nhiều lư do khác nhau, hố ngăn cách giữa những nước kém phát triển và những nước giàu đang càng ngày càng sâu thêm. Thị trường tự do tuy là một tiến tŕnh kinh tế với những khía cạnh tích cực, nhưng vẫn cho thấy những giới hạn của chính thị trường ấy. Mặt khác, t́nh yêu dành ưu tiên cho những người nghèo nói lên sự lựa chọn rất căn bản của Giáo Hội và Giáo Hội giới thiệu t́nh yêu thương đó cho tất cả mọi người thiện chí.

 V́ thế, rơ ràng là Giáo Hội phải làm cho tiếng nói của ḿnh vang dội đến mọi người về ‘những điều mới mẻ’ (res novae) tiêu biểu của thời hiện đại, bởi v́ Giáo Hội có nhiệm vụ mời gọi mọi người làm tất cả những ǵ có thể được để hướng đến một nền văn minh đúng nghĩa càng ngày càng nhắm tới sự phát triển toàn diện của con người trong t́nh liên đới.

4. Những vấn đề về xă hội và văn hoá hiện nay có liên quan đến tất cả anh chị em giáo dân,  như Công đồng Vatican II đă nhắc nhở chúng ta, để mời gọi họ đối diện với những vấn đề trần thế và hướng dẫn họ theo ư muốn của Thiên Chúa (x. Lumen Gentium, 31). V́ thế, chúng ta có thể hiểu một cách dễ dàng tầm quan trọng mang tính cơ bản của việc đào tạo giáo dân để cho sự thánh thiện từ cuộc sống của họ và sức mạnh qua những chứng tá của họ sẽ đóng góp vào sự tiến bộ của loài người. Tập tài liệu này nhắm mục tiêu giúp họ hoàn thành sứ mạng hằng ngày đó của ḿnh.

Hơn nữa, chúng ta cũng rất vui khi thấy nhiều phần được tŕnh bày trong sách này cũng đă được các Giáo hội khác, các Cộng đồng Giáo hội cũng như các Tôn giáo khác đón nhận. Bản văn đă được tŕnh bày theo một cách thức để giúp ích không những cho cộng đồng tín hữu Công giáo mà c̣n cho các thành phần ngoài Công giáo. Thật vậy, tất cả những ai cùng chia sẻ phép Thanh Tẩy với chúng ta, cũng như tín đồ của các Tôn giáo khác và tất cả mọi người thiện chí có thể t́m thấy, qua bản văn này, những cơ hội tốt để suy nghĩ và một động lực chung để phát triển toàn diện mỗi người và mọi người.

5. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong khi hy vọng rằng tài liệu này sẽ giúp nhân loại t́m kiếm một cách tích cực cho công ích, đă cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả những ai dừng lại để suy nghĩ về những giáo huấn của cuốn sách này. Với những lời chúc tốt đẹp nhất của cá nhân tôi dành cho sự thành công của cố gắng lớn lao này, tôi xin chúc mừng Đức Hồng y và những người cộng tác với Đức Hồng y trong Hội Đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh đă thực hiện công việc quan trọng này. Xin Đức Hồng y nhận nơi đây t́nh cảm kính trọng chân thành của tôi.

 

Trong Chúa Kitô,
Hồng y Angelo Sodano,
Bộ Trưởng Ngoại giao Toà Thánh

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

Của Đức Hồng y Renato Raffaele Martino

Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh

Tôi vui mừng giới thiệu bản Tóm lược Học thuyết Xă hội của Giáo hội Công giáo, mà theo yêu cầu của Đức Thánh Cha, đă được soạn thảo để cung cấp một cái nh́n chính xác và toàn diện về những giáo huấn xă hội của Giáo Hội.

Những thực tế xă hội đang đổi thay so với sức mạnh của Tin Mừng, mà các anh chị em tín hữu như những chứng nhân cho Đức Giêsu Kitô đang phải đối mặt, luôn luôn là một thách đố, và vào đầu thiên niên kỷ thứ ba này, thử thách ấy vẫn c̣n tồn tại. Việc công bố Đức Giêsu Kitô, như là “Tin Mừng” đem lại sự cứu độ, t́nh yêu, công lư và hoà b́nh, không phải được thế giới hôm nay sẵn sàng đón nhận, nhưng lời công bố này c̣n bị phá huỷ bởi chiến tranh, nghèo đói và bất công. V́ lư do rất chính đáng đó mà mọi người trong thời đại ngày nay càng cần đến Tin Mừng hơn bao giờ hết: Tin Mừng của niềm tin để cứu thoát, của hy vọng để thắp sáng và của bác ái để yêu thương.

Giáo Hội hiểu rất rơ về nhân loại và khi cảm nghiệm được trước với niềm tin và với sự dấn thân tích cực, Giáo Hội vẫn luôn hướng về một “trời mới” và một “đất mới” (2 Pr 3,13) mà Giáo Hội muốn chỉ rơ cho từng con người để giúp họ sống đúng với ư nghĩa của đời ḿnh. “Gloria Dei vivens homo”: một khi con người sống trọn vẹn theo phẩm giá của ḿnh sẽ làm vinh danh Thiên Chúa, Đấng đă trao ban phẩm giá đó cho mỗi con người.

Những bài học sau đây trên hết nhằm mục đích duy tŕ và cổ vũ mọi hoạt động của người Kitô hữu về phương diện xă hội, đặc biệt là những hoạt động của các giáo dân có liên quan cụ thể đến các lĩnh vực này: Toàn bộ cuộc sống của họ phải được coi như một công tŕnh loan báo Tin Mừng mang lại những hiệu quả thiết thực. Mọi tín hữu trước hết phải học cách vâng lời Chúa với ḷng tin mạnh mẽ như thánh Phêrô đă làm: “Thưa Thầy, chúng con đă vất vả suốt đêm mà không bắt được ǵ. Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5,5). Tất cả những độc giả “thiện chí” sẽ hiểu được các động lực thúc đẩy Giáo Hội mau mắn đưa ra học thuyết của ḿnh về phương diện xă hội, một lĩnh vực mà mới thoạt nh́n có vẻ như không thuộc về khả năng chuyên môn của Giáo Hội, và cũng chính những độc giả này sẽ hiểu tại sao Giáo Hội lại mạnh dạn đề cập, mạnh dạn đối thoại và hợp tác để phục vụ công ích.

Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức cố Hồng y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận (1928-2002), với sự khôn ngoan, sự kiên quyết và tầm nh́n xa trông rộng, đă thực hiện phần chuẩn bị phức tạp của tài liệu này; Chứng bệnh hiểm nghèo đă không cho ngài cơ hội hoàn thành phần kết thúc và xuất bản. Công việc trên đă được giao phó cho tôi và hôm nay dành cho tất cả những ai đọc quyển sách này, v́ thế công tŕnh này mang dấu ấn vị chứng nhân vĩ đại của Thập Giá, người đă có niềm tin mănh liệt trong những năm gian khổ của đất nước Việt Nam. Vị chứng nhân này sẽ thấu hiểu ḷng biết ơn của chúng ta đối với sự lao động quư báu, tràn ngập bởi t́nh yêu và sự tận tuỵ của ngài, và ngài sẽ chúc lành cho những ai biết dừng lại để suy tư khi đọc những trang sách này.

Tôi cầu xin lời chuyển cầu của Thánh Giuse, Người Bảo vệ Đấng Cứu Thế và cũng là Người Bạn đời của Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, là Thánh Bổn Mạng của Giáo Hội hoàn vũ và của Lao động, để tài liệu này đem đến muôn vàn kết quả trong cuộc sống của xă hội như một công cụ để loan báo Tin Mừng cũng như để xây dựng cho Công lư và Hoà b́nh.

Vatican, ngày 2-4-2004,

Ngày lễ nhớ Thánh Phanxicô Paola
GM.Giampaolo Crepaldi    HY.Renato Raffaele Martino

           Thư kư                                   Chủ tịch

 

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn Tóm lược Học thuyết Xă hội của Giáo hội Công giáo là công tŕnh tập thể của Uỷ ban Bác ái Xă hội thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam nhằm giới thiệu cho đồng bào Công giáo và không Công giáo những nguyên tắc nền tảng và đường hướng hoạt động của Giáo hội Công giáo trong lĩnh vực xă hội.

Để đạt được mục đích này, chúng tôi in nội dung cuốn sách thành hai ấn bản. Một ấn bản “Phổ thông” dành cho quảng đại độc giả và một ấn bản tạm gọi là “đầy đủ”, có thêm phần tra cứu, dành cho những độc giả nào muốn tham khảo, đối chiếu chi tiết về nội dung Học thuyết Xă hội Công giáo. Nội dung ấn bản Phổ thông là các phần chính văn gồm Nhập đề và 12 chương sách, kèm thêm 1232 số chú thích của bản gốc Anh ngữ. Ấn bản đầy đủ gồm tất cả nội dung của ấn bản Phổ thông cộng thêm các phần: Mục lục Tham khảo về Thánh Kinh và các Văn kiện như Công đồng Vatican II, các Thông điệp, Tông thư, Tông huấn, Sứ điệp của các giáo hoàng, các Huấn thị của các Bộ, Hội đồng Giáo hoàng và các Văn kiện khác; Mục lục H́nh ảnh và Mục lục Phân tích Chủ đề.

Chúng tôi cũng xin lưu ư rằng cuốn sách này dù đă dài hơn 400 trang nhưng chỉ vẫn là bản tóm lược, nghĩa là mới chỉ nêu lên những điểm chính và quan trọng nhất trong học thuyết xă hội Công giáo, để quư độc giả có một cái nh́n tổng thể chứ chưa phải là bản tŕnh bày đầy đủ toàn bộ học thuyết. Hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ có bộ sách trọn vẹn này.

Cũng v́ mục đích muốn phổ biến cuốn sách cho quảng đại độc giả Việt Nam trong và ngoài Công giáo, cũng như để giúp cho độc giả dễ tiếp thu một bản văn tương đối khô khan và có tính chuyên đề, ngoài việc cố gắng dùng các từ ngữ phổ thông - không quá chuyên môn cũng không quá riêng biệt của Công giáo, ngoại trừ một số từ ngữ chưa có trong cuốn từ điển hiện nay - chúng tôi c̣n đưa vào một số h́nh ảnh minh hoạ, vừa để làm vui mắt độc giả vừa để tạo chất liệu cho các độc giả suy nghĩ thêm theo từng chủ đề. Các h́nh ảnh này đều ghi xuất xứ. Chúng tôi xin cám ơn các tác giả ảnh đă cho phép chúng tôi được sử dụng những h́nh ảnh trong cuốn sách hoàn toàn mang tính xây dựng nhân bản và vô vị lợi này.

Trong quá tŕnh thực hiện cuốn sách, chúng tôi đă nhận được sự giúp đỡ tận t́nh của Thầy Trần Bá Nguyệt và tập thể bè bạn đă chuẩn bị cho phần dịch thuật sơ khởi như: Quư Thầy Lê Mạnh Hà, Nguyễn Văn Khi, Phan Năng Huân, Hà Kim Phước, Nguyễn Hoàng Quy, thuộc Trường Đại học Nông Lâm, TP. HCM, Thầy Phạm Hữu Giáo thuộc trường Đại học Khoa học và Xă hội Nhân Văn, TP. HCM, Thầy Từ Việt Hùng thuộc Trường Đại học Bách Khoa, TP. HCM, Bác sĩ Đỗ Thông, Lm. Trần Đ́nh Long, thuộc ḍng Thánh Thể, Ông Nguyễn Chính Kết, Ông Lê Hùng Sơn và nhiều anh chị em tín hữu trong các ngành chuyên môn. Chúng tôi chân thành cảm tạ sự đóng góp quư báu của tất cả anh chị em cho tập sách này.

Chúng tôi cũng hết ḷng cám ơn Nhà Xuất bản Tôn Giáo, các cơ quan ban ngành đă tận t́nh giúp đỡ và tạo thuận lợi cho chúng tôi xuất bản cuốn sách này. Hành động nhiệt t́nh này nói lên sự cởi mở và quan tâm của những người đang nắm quyền hành của đất nước để cùng cộng tác với mọi người trong việc phục vụ công ích của quốc gia và toàn thể gia đ́nh nhân loại.

Trong quá tŕnh dịch thuật và thực hiện cuốn sách này, chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót ngoài ư muốn. Chúng tôi rất mong quư độc giả thông cảm và tích cực góp ư để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau này.

Sau cùng, xin quư độc giả cùng chúng tôi dâng lời tạ ơn Thiên Chúa v́ Ngài đă cho chúng ta được gặp gỡ nhau và gặp gỡ Ngài qua cuốn sách này. Kính chúc quư độc giả an mạnh và tràn đầy ơn Chúa để chúng ta cùng nhau xây dựng một nền văn hoá sự sống và một nền văn minh t́nh yêu cho xă hội loài người.

Thay mặt Ban Dịch thuật và Thực hiện
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn



BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

 

 

a                      in articulo
AAS                Acta Apostolicae Sedis (Văn kiện Tông Toà) từ năm 1909
                        trở đi.
ASS                 Acta Sanctae Sedis (Văn kiện Toà Thánh) từ năm 1865-
                        1908
C                     Corpore articuli
CĐ                  Công Đồng
Ch                   Chương
DS                   H. Denzinger-A.Schonmetzer. Enchiridion Symbolorum
                        definitionum et declarationum de rebus fidei et morum –
                        Sách chỉ nam các tín điều, tuyên ngôn về đức tin và luân
                        lư.
Ed                   Edita
Ibid.                Ibidem (như trên)
I                      Prima Pars Summae Theologiae Bộ Tổng luận Thần học,
                        quyển I
I-II                   Prima Secundae Partis Summae Theologiae Bộ Tổng luận
                        Thần học, Phần I của quyển II
II-II                  Secunda Secundae Partis Summae Theologiae Bộ Tổng
                        luận Thần học, Phần II của quyển II
III                    Tertia Pars Summae Theologiae Bộ Tổng luận Thần học,
                        quyển III
PG                   Patrologia Graeca (Giáo phụ Hy Lạp) (J.P. Migne)
PL                   Patrologia Latina (Giáo phụ Latinh) (J.P. Migne)
q                      quaestio
r                       trang
tt                      tiếp theo
x.                     xem


KƯ HIỆU CÁC SÁCH THÁNH KINH

THEO THỨ TỰ CHỮ CÁI

NHẬP ĐỀ

MỘT NỀN NHÂN BẢN

TOÀN DIỆN VÀ LIÊN ĐỚI

a. Vào lúc khai nguyên Thiên Niên Kỷ Thứ Ba

1. Giáo Hội tiến vào Thiên Niên Kỷ Thứ Ba của kỷ nguyên Kitô giáo như một đoàn dân lữ hành, dưới sự hướng dẫn của Đức Kitô, vị “Mục Tử cao cả” (Dt 13,20). Người là “Cửa Thánh” (x. Ga 10,9) mà chúng ta đă bước qua trong Năm Toàn Xá 20001. Đức Giêsu Kitô chính là con đường, là sự thật và là sự sống (x. Ga 14,6): khi nh́n ngắm dung nhan Người, chúng ta càng thêm tin tưởng và hy vọng nơi Người, Vị Cứu Tinh duy nhất và cũng là mục tiêu duy nhất của lịch sử.

Giáo Hội tiếp tục ngỏ lời với mọi dân tộc và mọi quốc gia, v́ ơn cứu độ chỉ được ban cho con người nhân danh Đức Kitô. Sự cứu độ, mà Chúa Giêsu đă phải trả “bằng một giá đắt” (1 Cr 6,20; x. 1 Pr 1,18-19), được hoàn thành trong sự sống mới đang chờ trao cho người công chính sau khi họ chết. Nhưng sự cứu độ ấy cũng đang thâm nhập vào thế giới này qua các thực tại của kinh tế và lao động, công nghệ và truyền thông, xă hội và chính trị, cộng đồng quốc tế và các mối quan hệ giữa các nền văn hoá và giữa các dân tộc. “Đức Giêsu đến để mang ơn cứu độ toàn diện – một sự cứu độ bao trùm lên mỗi con người và toàn thể nhân loại, đồng thời mở ra một triển vọng rất kỳ diệu, là mọi người được nhận làm con Thiên Chúa”2.

2. Vào lúc khai nguyên Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, Giáo Hội không mệt mỏi để công bố Tin Mừng mang ơn cứu độ và sự tự do đích thực đến cho các thực tại trần thế. Giáo Hội nhớ lời thánh Phaolô nói với môn đệ Timôthê của ḿnh: “Hăy rao giảng Lời Chúa, hăy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hăy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ với tất cả ḷng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ. Thật vậy, sẽ đến thời người ta không c̣n chịu nghe giáo lư lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của ḿnh mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lư, nhưng hướng về những chuyện hoang đường. Phần anh, hăy thận trọng trong mọi sự, hăy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh” (2 Tm 4,2-5).

3. Giáo Hội cũng cống hiến học thuyết xă hội của ḿnh cho những người bạn đồng hành với ḿnh, là mọi người hôm nay. Thật vậy, khi Giáo Hội “chu toàn sứ mạng công bố Tin Mừng là Giáo Hội làm chứng cho con người, nhân danh Đức Kitô: làm chứng cho phẩm giá của con người, cho ơn gọi sống hiệp thông giữa mọi người với nhau. Giáo Hội dạy cho con người biết các đ̣i hỏi của công lư và hoà b́nh phù hợp với sự khôn ngoan của Thiên Chúa”3. Học thuyết này có một mối thống nhất rất sâu xa, bắt nguồn từ Niềm Tin vào một ơn cứu độ toàn diện và trọn vẹn, từ niềm Hy Vọng vào sự sung măn của công lư và từ T́nh Yêu sẽ làm cho mọi người trở thành anh chị em với nhau trong Đức Kitô: đó cũng chính là dấu biểu hiện t́nh thương Thiên Chúa dành cho thế giới, một thế giới đă được Ngài yêu thương tới mức “ban tặng cả Con Một của ḿnh” (Ga 3,16). Luật yêu thương mới mẻ này bao trùm lên cả gia đ́nh nhân loại và là luật không có giới hạn, v́ ơn cứu độ do Đức Kitô thực hiện được công bố rộng răi “tới tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

4. Khi khám phá ra ḿnh được Thiên Chúa yêu thương, người ta mới hiểu được phẩm giá siêu việt của ḿnh, biết như thế không phải để ḿnh hài ḷng với ḿnh mà c̣n để đến gặp người khác qua một mạng lưới quan hệ ngày càng nhân bản hơn. Những người đă được t́nh thương Thiên Chúa “đổi mới” có thể thay đổi các luật lệ và chất lượng của các mối quan hệ, thậm chí chuyển biến cả các cấu trúc xă hội. Họ trở thành người có khả năng đem hoà b́nh đến nơi xung đột, gầy dựng và nuôi dưỡng các mối tương quan huynh đệ ở nơi có hận thù, đi t́m công lư ở nơi c̣n đầy cảnh người bóc lột người. Chỉ có t́nh thương mới có khả năng thay đổi tận gốc những mối quan hệ đang có giữa con người với nhau. Đây chính là viễn cảnh giúp mọi người thiện chí thấy được những chân trời công lư rộng mở, và con người phát triển trong sự thật và sự thiện hảo.  

5. T́nh yêu hướng đến một phạm vi hoạt động rộng lớn và Giáo Hội hăng hái đóng góp vào đấy qua học thuyết xă hội của ḿnh, một học thuyết quan tâm đến con người toàn diện và được gửi tới cho hết mọi người. Biết bao anh chị em nghèo đói đang cần giúp đỡ, biết bao người bị áp bức đang chờ công lư, biết bao người thất nghiệp đang cần công ăn việc làm, biết bao người đang mong được tôn trọng. “Làm sao đến ngày hôm nay vẫn c̣n người phải chết đói, phải mù chữ, thiếu sự chăm sóc y tế tối thiểu, và không có nhà che nắng che mưa? Chúng ta không bao giờ liệt kê hết danh sách những người nghèo túng, v́ ngoài những h́nh thức nghèo túng quen thuộc trên đây c̣n thấy xuất hiện những dạng nghèo túng mới. Những dạng nghèo túng mới này thường tác động tới cả những bộ phận dân chúng và những tập thể dồi dào tài chính, nhưng có nguy cơ thất vọng v́ không t́m được ư nghĩa cho cuộc đời, v́ nghiện ngập ma tuư, v́ lo sợ bị bỏ rơi khi về già hay khi đau ốm, v́ bị gạt ra bên lề xă hội hay bị kỳ thị trong xă hội… Và làm sao chúng ta có thể hờ hững trước viễn cảnh về môi trường sinh thái bị khủng hoảng, đang biến những khu vực rộng lớn của hành tinh chúng ta không c̣n người ở hay trở nên rất khắc nghiệt đối với con người? Hoặc hờ hững đối với vấn đề hoà b́nh trước cảnh con người lúc nào cũng bị các cuộc chiến tàn khốc đe doạ? Hoặc hờ hững trước nguy cơ coi thường các quyền căn bản của rất nhiều người, đặc biệt là trẻ em?”4.

6. T́nh yêu Kitô giáo sẽ đưa chúng ta tới chỗ tố cáo, đề nghị và dấn thân vào những dự án văn hoá và xă hội; t́nh yêu này thúc đẩy sự hoạt động tích cực để tất cả những ai thành thật coi trọng ích lợi của con người đều muốn góp phần của ḿnh. Nhân loại sẽ hiểu rơ hơn bao giờ hết rằng mọi người đều được liên kết với nhau bởi một vận mệnh duy nhất nên phải cùng nhau gánh lấy trách nhiệm, một trách nhiệm được thôi thúc bởi một nền nhân bản toàn diện và liên đới. Nhân loại thấy rằng, vận mệnh duy nhất này thường bị lệ thuộc, thậm chí bị áp đặt, bởi các tác nhân kinh tế và công nghệ, và cảm thấy cần phải có những nhận thức luân lư sâu xa hơn th́ mới hướng dẫn được hành tŕnh chung của nhân loại. Ngạc nhiên trước rất nhiều phát minh thuộc lĩnh vực công nghệ, con người hôm nay hết sức ao ước cho mọi tiến bộ đều được quy hướng về ích lợi thật của nhân loại, hôm nay lẫn ngày mai.

b. Ư nghĩa của tài liệu này

7. Người Kitô hữu biết rằng họ có thể t́m thấy trong học thuyết xă hội của Giáo Hội những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán và những chỉ dẫn để hành động. Đó là bước đầu để đẩy mạnh nền nhân bản toàn diện và liên đới. Bởi thế, việc phổ biến cho mọi người biết học thuyết này đúng là một công tác mục vụ ưu tiên, nhờ đó mọi người sẽ được học thuyết này soi sáng, hầu có thể giải thích các thực trạng hiện nay và t́m ra những hướng hành động thích hợp: “Giảng dạy và phổ biến học thuyết xă hội là một phần trong sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội”5.

Nh́n trong ánh sáng ấy, việc phát hành tập tài liệu chứa đựng các yếu tố căn bản của học thuyết xă hội Công giáo cho thấy mối tương quan giữa học thuyết này và công cuộc tân Phúc Âm hoá6 quả là một việc làm hết sức bổ ích. Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh, khi đứng ra soạn thảo tài liệu này và chịu trách nhiệm về nội dung của tài liệu, đă tiến hành công việc bằng cách tham khảo rộng răi các thành viên và các vị cố vấn của Hội đồng, cũng như các thánh bộ khác của giáo triều Roma, các hội đồng giám mục các nước, các cá nhân giám mục và các chuyên viên liên quan đến những vấn đề được đề cập đến trong tài liệu.

8. Tập tài liệu này muốn giới thiệu một cách đầy đủ và hệ thống, dù chỉ là lược qua, học thuyết xă hội của Giáo Hội. Đây là kết quả suy tư thận trọng của Huấn Quyền và là biểu hiện sự dấn thân bền bỉ của Giáo Hội muốn trung thành với ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại và muốn quan tâm lo lắng cho vận mệnh của nhân loại. Thế nên, tất cả những suy tư sâu sắc nhất về thần học, triết học, luân lư, văn hoá và mục vụ trong học thuyết này đều được giới thiệu một cách hệ thống, khi chúng liên quan đến các vấn đề xă hội. Bằng cách đó, chúng ta minh chứng cho mọi người thấy sẽ rất có kết quả khi để cho các vấn đề mà loài người đang phải đối mặt trong cuộc hành tŕnh của ḿnh qua ḍng lịch sử được tiếp cận Tin Mừng. Khi học hỏi tập tài liệu toát yếu này, cần nhớ rằng các bản văn trích dẫn của Huấn Quyền, được lấy ra từ các văn kiện thuộc nhiều thẩm quyền khác nhau. Bên cạnh các văn kiện của công đồng và các thông điệp c̣n có các bài diễn văn của đức giáo hoàng và các tài liệu do các bộ của Toà Thánh soạn thảo. Và như chúng ta đă biết, nhưng cũng cần nhắc lại, độc giả nên lưu ư mỗi tài liệu có thẩm quyền giáo huấn khác nhau. Tập tài liệu này chỉ muốn đưa ra các yếu tố căn bản của học thuyết xă hội Công giáo, và để các hội đồng giám mục tuỳ theo t́nh h́nh địa phương mà đưa ra những áp dụng thích hợp7.

9. Tập tài liệu này cho chúng ta có một cái nh́n tổng lược nhưng đầy đủ về bố cục cơ bản của toàn bộ giáo huấn xă hội Công giáo. Nhờ cái nh́n tổng lược ấy, chúng ta có thể tiếp cận các vấn đề xă hội hiện nay một cách thích đáng, nhưng phải nh́n các vấn đề ấy như một tổng thể thống nhất v́ đặc điểm của các vấn đề ấy hiện nay là càng ngày chúng càng có liên hệ với nhau, ảnh hưởng đến nhau và càng ngày càng trở thành mối quan tâm của toàn thể gia đ́nh nhân loại. Tập tài liệu tŕnh bày giáo huấn xă hội của Giáo Hội này muốn giới thiệu một cách tiếp cận có hệ thống để t́m ra giải pháp cho các vấn đề, hầu mọi phân định, phán đoán và quyết định của chúng ta đều phù hợp với thực tế, cũng như sự liên đới và hy vọng của chúng ta sẽ có tác dụng lớn hơn trên các t́nh thế phức tạp hiện nay. Thật vậy, các nguyên tắc trong học thuyết xă hội Công giáo đều có liên quan với nhau, nguyên tắc này soi sáng cho nguyên tắc kia, bao lâu chúng c̣n phản ánh quan điểm Kitô giáo về nhân học8, và cũng là những kết quả rút ra được từ mạc khải của Thiên Chúa về t́nh yêu của Ngài đối với con người. Tuy nhiên, không được quên rằng thời gian trôi qua và các hoàn cảnh xă hội đổi thay buộc chúng ta phải cập nhật liên tục các suy tư của chúng ta về các vấn đề được nêu ra ở đây, để chúng ta có thể giải thích đúng đắn các dấu chỉ mới của thời đại.

10Tập tài liệu này được coi là một công cụ giúp chúng ta phân định về mặt luân lư và mục vụ các biến cố phức tạp đang ghi dấu trên thời đại hôm nay; cũng có thể coi tập tài liệu này như một kim chỉ nam giúp cá nhân cũng như tập thể có những thái độ và lựa chọn để mọi người có thể nh́n về tương lai một cách tin tưởng và hy vọng nhiều hơn; cũng có thể coi tập tài liệu này như một sự hỗ trợ người tín hữu muốn hiểu biết giáo huấn của Giáo Hội về luân lư xă hội. Từ đó, có thể đưa ra những đối sách mới đáp ứng các yêu cầu của thời đại, bắt kịp các nhu cầu và các năng lực của con người. Nhưng trên hết, tập tài liệu này c̣n muốn tạo nên động lực thúc đẩy việc khám phá lại ơn gọi của các đoàn sủng khác nhau trong Giáo Hội, nhằm phục vụ công cuộc Phúc Âm hoá trật tự xă hội, v́ “mọi thành phần trong Giáo Hội đều tham dự vào chiều kích trần thế này”9. Tóm lại, tập tài liệu này nhằm mục đích thúc đẩy cuộc đối thoại với bất cứ ai chân thành mong muốn điều tốt đẹp cho nhân loại.

11. Tập tài liệu nhắm trước tiên đến các giám mục, là những vị sẽ quyết định dùng những phương pháp nào thích hợp nhất để phổ biến và giải thích tài liệu một cách đúng đắn. Thật vậy, trong nhiệm vụ giảng dạy (munus docendi), các giám mục có bổn phận phải dạy rằng “các thực tại trần thế và các tổ chức nhân loại đă được sắp đặt để cứu độ con người, theo như kế hoạch của Thiên Chúa Tạo Hoá, và v́ thế, tất cả các thực tại và các tổ chức ấy có thể đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô”10. Các linh mục, các nam nữ tu sĩ, và nói chung, tất cả những người có trách nhiệm đào tạo đều sẽ t́m thấy ở đây kim chỉ nam cho công tác giảng dạy và công cụ cho việc làm mục vụ của ḿnh. Các tín hữu giáo dân – những người t́m kiếm Nước Trời “bằng cách dấn thân vào các việc trần thế và hướng dẫn chúng theo ư muốn của Thiên Chúa”11 – sẽ t́m ra trong tập tài liệu này ánh sáng giúp ḿnh thấy rơ sứ mạng riêng biệt của ḿnh. Các cộng đồng Kitô hữu cũng có thể dựa vào tập tài liệu này để phân tích các hoàn cảnh cách khách quan, làm sáng tỏ các hoàn cảnh ấy dựa vào những lời bất di bất dịch của Tin Mừng, hay rút ra những nguyên tắc để suy nghĩ, những tiêu chuẩn để phê phán và những đường hướng để hành động12.

12. Tập tài liệu này cũng được gửi tới anh chị em thuộc các Giáo hội và các Cộng đồng Giáo hội khác, gửi tới các tín đồ của các tôn giáo, cũng như tất cả những người thiện chí đang dấn thân phục vụ công ích: ước chi họ tiếp nhận tập tài liệu này như kết quả của một kinh nghiệm phổ quát của con người, được ghi dấu bằng vô số các dấu hiệu cho biết Thánh Thần Thiên Chúa đang hiện diện. Đó là một kho tàng gồm cả điều cũ lẫn điều mới (x. Mt 13,52) mà Giáo Hội muốn san sẻ trong tâm t́nh tạ ơn Thiên Chúa, v́ từ nơi Thiên Chúa sẽ tuôn đổ “mọi ơn lành và mọi phúc lộc tuyệt hảo” (Gc 1,17). Quả là một dấu hiệu đáng hy vọng khi các tôn giáo và các nền văn hoá hiện nay tỏ ra rất sẵn sàng đối thoại và đang cảm thấy nhu cầu cấp bách phải hợp lực để đẩy mạnh công lư, t́nh huynh đệ, hoà b́nh và sự phát triển của con người.

Giáo hội Công giáo liên kết nỗ lực của ḿnh với nỗ lực của các Giáo hội và Cộng đồng Giáo hội khác trong lĩnh vực xă hội, bất kể về mặt lư thuyết hay về mặt thực hành. Cùng với họ, Giáo hội Công giáo tin rằng người ta có thể rút tỉa từ kho tàng chung là các giáo huấn xă hội, đă được truyền thống sống động của dân Chúa lưu giữ, những động lực và những định hướng giúp mọi người cộng tác với nhau chặt chẽ hơn để xúc tiến công lư và hoà b́nh13.

c. Để phục vụ sự thật toàn vẹn về con người

13. Tập tài liệu này là một cách Giáo Hội phục vụ con người trong thời đại hôm nay; Giáo Hội để lại cho họ di sản là học thuyết xă hội của ḿnh, cũng theo phương cách đối thoại mà chính Thiên Chúa đă làm khi “ngỏ lời với mọi người như với bạn hữu ḿnh (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15) và đi lại giữa mọi người” (x. Br 3,38), qua Con Một đă làm người của ḿnh”14. Cảm hứng từ Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, tập tài liệu này cũng lấy “con người duy nhất và toàn diện với thể xác và linh hồn, với t́nh cảm và lương tâm, với lư trí và ư chí”15 làm then chốt cho toàn thể phần tŕnh bày của ḿnh. Trong viễn cảnh ấy, Giáo Hội “không v́ một tham vọng trần thế nào, chỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất là xúc tiến công việc của Đức Kitô dưới sự hướng dẫn thân t́nh của Chúa Thánh Thần. V́ Đức Kitô đă đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, để cứu độ chứ không phải để lên án, để phục vụ chứ không để được người ta phục vụ”16.

14. Thông qua tập tài liệu này, Giáo Hội muốn đóng góp phần sự thật của ḿnh để trả lời cho vấn đề con người chiếm vị trí nào trong thiên nhiên và trong xă hội con người, một vấn đề mà các nền văn minh và văn hoá đang phải đối mặt khi chúng biểu hiện cho sự khôn ngoan của con người. Bắt nguồn từ một quá khứ đă có hàng ngàn năm và được biểu hiện qua những h́nh thức như tôn giáo, triết học và thi ca, theo từng thời đại và từng dân tộc, các nền văn minh và văn hoá ấy đưa ra cách lư giải riêng của ḿnh về vũ trụ và xă hội con người, cũng t́m cách hiểu thế nào là hiện hữu và mầu nhiệm hiện hữu. Tôi là ai? Tại sao lại có đau khổ, sự dữ, chết chóc bất chấp mọi tiến bộ đă thực hiện được? Những thành quả con người đă đạt được có c̣n giá trị ǵ, khi con người phải trả một cái giá đắt tới mức không thể chịu nổi? C̣n ǵ nữa sau cuộc đời này? Đó là những vấn nạn căn bản luôn xuất hiện trong cuộc đời con người17. Về điểm này, chúng ta có thể nhớ lại lời nhắn nhủ “Hăy tự biết lấy ḿnh”, được khắc trên cổng đền ở Delphi, lời đó xác nhận một sự thật căn bản là con người được mời gọi tách riêng ra khỏi các thụ tạo khác, con người chỉ thật sự là con người do tự bản chất con người luôn hướng tới việc t́m biết chính ḿnh.

15. Đời sống con người, xă hội và lịch sử sẽ đi theo hướng nào tuỳ thuộc rất nhiều vào những câu trả lời mà chúng ta t́m được cho những câu hỏi về vị trí của con người trong thiên nhiên và xă hội. Mục đích của tập tài liệu này cũng là để góp phần đưa ra những câu trả lời ấy. Thật vậy, ư nghĩa sâu xa nhất của cuộc sống con người được lộ ra khi con người tự do t́m kiếm sự thật nào có thể định hướng và đem lại sự sung măn cho cuộc sống. Những vấn nạn đă nhắc tới trên đây là những vấn nạn không ngừng thu hút lư trí và ư muốn của con người dấn thân vào công cuộc t́m kiếm ấy. Những vấn nạn ấy cũng chính là sự biểu hiện cao cả nhất của bản tính con người, v́ chúng đ̣i con người phải đáp trả sâu xa tới mức bắt mỗi cá nhân phải dấn thân bằng cả cuộc sống của ḿnh. Ngoài ra, ở đây, chúng ta cũng đụng phải những vấn đề chủ yếu mang tính tôn giáo: “Khi tra cứu ‘nguyên nhân của sự vật’, đồng thời muốn t́m kiếm câu trả lời cuối cùng và trọn vẹn nhất, lư trí con người sẽ đi tới tột đỉnh và mở ra với thế giới của tôn giáo… Tính tôn giáo chính là biểu hiện thanh cao nhất của con người v́ đó chính là cao điểm của một bản tính có lư trí. Tính tôn giáo xuất phát từ khát vọng sâu xa của con người - khát vọng t́m kiếm sự thật - nhưng tính tôn giáo cũng là nền tảng cho việc t́m kiếm thế giới thần linh cách tự do và riêng tư”18.

16. Những vấn đề căn bản đi theo con người trong suốt cuộc hành tŕnh ngay từ lúc khởi đầu đến nay c̣n mang nhiều ư nghĩa hơn nữa, v́ thời đại chúng ta ngày nay phải đương đầu với những thách đố lớn lao, các t́nh huống mới mẻ và các quyết định quan trọng khi đối diện với các thế hệ mới.

Thách đố đầu tiên trong những thách đố lớn lao đang đặt ra cho con người hôm nay là chính sự thật về hữu thể được gọi là con người. Ranh giới và tương quan giữa thiên nhiên, công nghệ và luân lư là những vấn đề buộc cá nhân và tập thể phải chịu trách nhiệm về thái độ của ḿnh đối với câu trả lời: con người là ǵ, con người có thể làm được những ǵ và con người phải như thế nào? Thách đố thứ hai là làm sao hiểu được và xử lư sự đa nguyên và sự khác biệt ở mọi cấp độ: đa nguyên và khác nhau trong các cách suy nghĩ, trong các lựa chọn luân lư, trong văn hoá, trong sự liên kết tôn giáo, trong triết lư về sự phát triển con người và xă hội. Thách đố thứ ba là việc toàn cầu hoá, một sự kiện có ư nghĩa rộng lớn và sâu xa hơn nhiều chứ không chỉ đơn giản là kinh tế được toàn cầu hoá, v́ lịch sử đang chứng kiến một kỷ nguyên mới vừa khai mạc, có liên quan đến vận mệnh của loài người.

17. Các môn đệ của Đức Giêsu Kitô cảm thấy ḿnh cũng đang bị cuốn hút vào những vấn nạn ấy; họ cũng cưu mang những vấn nạn ấy trong tâm hồn và cũng muốn cùng với mọi người dấn thân t́m kiếm sự thật và ư nghĩa của cuộc đời – để sống cuộc đời ấy như những cá nhân và như thành phần của xă hội. Các môn đệ của Đức Giêsu Kitô góp phần vào công cuộc t́m kiếm ấy bằng cách quảng đại làm chứng cho ân huệ đặc biệt mà Thiên Chúa đă tặng không cho loài người: đó là Thiên Chúa đă nói Lời của Ngài cho con người suốt ḍng lịch sử; bản thân Ngài đă bước vào lịch sử để đối thoại với loài người và để mạc khải cho loài người biết kế hoạch cứu độ, sự công bằng và t́nh huynh đệ. Trong Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Chúa đă giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và chỉ cho chúng ta thấy con đường ḿnh phải đi và đích điểm ḿnh phải phấn đấu đạt tới.

d. Trong dấu hiệu của liên đới, tôn trọng và yêu thương

18. Giáo Hội lữ hành qua các nẻo đường lịch sử cùng với toàn thể nhân loại. Giáo Hội sống trong thế giới, và dù không thuộc về thế giới (x. Ga 17,14-16), Giáo Hội cũng được mời gọi phục vụ thế giới theo ơn gọi sâu xa của ḿnh. Thái độ này, cũng được nhắc đến trong tập tài liệu đây, là thái độ được xây dựng trên sự xác tín rằng: việc thế giới nh́n nhận Giáo Hội như một thực tế lịch sử và như chất men trong lịch sử quan trọng thế nào đối với thế giới th́ việc Giáo Hội nhận ra những ǵ Giáo Hội thu được từ lịch sử và từ công cuộc phát triển của nhân loại cũng quan trọng như thế đối với Giáo Hội19. Công đồng Vatican II đă chứng minh một cách hùng hồn về sự liên đới, tôn trọng và ưu ái của ḿnh đối với toàn thể gia đ́nh nhân loại bằng cách tham gia đối thoại với nhân loại về nhiều vấn đề, “đem lại ánh sáng được thắp lên từ Tin Mừng và trao phó cho loài người những nguồn mạch cứu độ mà Giáo Hội đă nhận được từ tay Đấng Sáng Lập, dưới sự thôi thúc của Thánh Thần. Chính con người mới là đối tượng cần được cứu độ, chính xă hội con người mới là đối tượng cần được đổi mới”20.

19. Là dấu chỉ trong lịch sử về t́nh thương của Thiên Chúa đối với con người và về ơn gọi của toàn thể nhân loại, hướng đến sự hợp nhất với nhau như con cái cùng một Cha21, Giáo Hội mong muốn qua tập tài liệu về học thuyết xă hội này đề nghị với mọi người một nền nhân bản phù hợp với những tiêu chuẩn trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa trong lịch sử, một nền nhân bản toàn diện và liên đới có thể tạo ra một trật tự xă hội, kinh tế và chính trị mới, đặt nền tảng trên phẩm giá và tự do của mỗi con người; trật tự ấy phải được khai sinh trong hoà b́nh, công lư và liên đới. Nền nhân bản này có thể trở thành sự thật nếu mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng biết vun trồng các đức tính luân lư và xă hội nơi bản thân ḿnh và phổ biến chúng trong xă hội. “Như vậy, với sự trợ giúp cần thiết của ân huệ Chúa, một thế hệ mới gồm những con người mới sẽ được khai sinh, làm khuôn mẫu cho một nhân loại mới”22.

PHẦN MỘT

“Cần phải lấy chiều hướng thần học để vừa giải thích vừa giải quyết các vấn đề hiện nay trong xă hội loài người”.

 (Centesimus Annus, 55)

CHƯƠNG MỘT

KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG

CỦA THIÊN CHÚA ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI

I. HOẠT ĐỘNG GIẢI PHÓNG CỦA THIÊN CHÚA TRONG LỊCH SỬ DÂN ISRAEL

a. Sự hiện diện vô điều kiện của Thiên Chúa

20. Trong mọi truyền thống văn hoá, bất cứ kinh nghiệm tôn giáo chân chính nào cũng đều dẫn người ta tới chỗ linh cảm một huyền nhiệm nào đó, và huyền nhiệm này thường giúp chúng ta nhận ra một vài nét trong dung mạo Thiên Chúa. Một đàng, Thiên Chúa được coi là nguồn gốc của mọi sự đang hiện hữu, là sự hiện diện bảo đảm cho con người có được những điều kiện sống căn bản để tổ chức thành một xă hội, trao vào tay con người những phương thế cần thiết. Đàng khác, Thiên Chúa xuất hiện như chuẩn mực cho biết mọi sự phải thế nào, như sự hiện diện luôn thách thức các hoạt động của con người – cả trên b́nh diện cá nhân lẫn xă hội – liên quan đến việc sử dụng các phương thế ấy trong mối tương quan với người khác. Thế nên, trong bất cứ kinh nghiệm tôn giáo nào, người ta cũng phải hết sức chú ư tới chiều hướng ban tặng và cho không, được coi là yếu tố nằm bên dưới mọi kinh nghiệm con người có về cuộc sống của ḿnh cùng với người khác trong thế giới, cũng như phải hết sức chú ư tới những âm hưởng của chiều hướng này trên lương tâm con người, khiến con người cảm thấy ḿnh được kêu gọi để quản lư quà tặng đă nhận được với tinh thần trách nhiệm và cùng với người khác. Bằng chứng cho sự kiện này là ai ai cũng nhận ra một quy luật vàng, cho biết đâu là điều Đấng Huyền Nhiệm muốn dạy con người trong quan hệ với nhau: “Bất cứ điều ǵ anh em muốn người khác làm cho ḿnh th́ chính anh em hăy làm cho họ” (Mt 7,12)23.     

21. Trên kinh nghiệm tôn giáo phổ quát nền tảng ấy, được mỗi người cảm nhận mỗi khác, chúng ta thấy nổi rơ sự mạc khải tiệm tiến của Thiên Chúa về bản thân ḿnh cho dân Israel. Mạc khải này đáp ứng nỗi khao khát của con người đi t́m kiếm Chúa, và đáp ứng một cách hết sức bất ngờ theo cung cách của lịch sử – tức là vừa gây ấn tượng vừa thâm nhập sâu xa – qua đó Thiên Chúa cho con người thấy t́nh thương của Ngài cách cụ thể. Theo sách Xuất Hành, Thiên Chúa nói với Môsê như sau: “Ta đă thấy nỗi khốn khổ của dân Ta bên Ai Cập, Ta đă nghe thấy tiếng kêu la của chúng v́ các tay đốc công; Ta biết những đau khổ của chúng, và Ta sẽ xuống để giải thoát chúng khỏi tay những người Ai Cập, đưa chúng ra khỏi đất ấy để tới miền đất tốt tươi và rộng răi, miền đất chảy sữa và mật ong” (Xh 3,7-8). Sự hiện diện hoàn toàn vô vị lợi của Thiên Chúa – một điều được ám chỉ qua cái tên của Ngài như Ngài đă mạc khải cho Môsê, “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3,14) – được biểu lộ qua việc Ngài giải phóng họ khỏi ách nô lệ và qua những lời Ngài hứa. Những việc này đă trở thành những hành động lịch sử, là nguyên nhân đưa tới cách thế mà dân Chúa tự xác định ḿnh, khi nhận được sự tự do và miền đất Chúa ban tặng.

22. Hành động tặng không mà Thiên Chúa đă thực hiện hết sức hiệu quả trong lịch sử ấy luôn có kèm theo việc cam kết thực thi giao ước, do Thiên Chúa đề nghị và được dân Israel chấp nhận. Trên núi Sinai, sáng kiến của Thiên Chúa đă trở thành cụ thể qua giao ước của Ngài với dân Ngài, và kèm theo đó là Mười Điều Răn do Chúa mạc khải (x. Xh 19-24). “Mười Điều Răn” ấy (Xh 34,28; x. Đnl 4,13; 10,4) “diễn tả nội dung bao hàm những việc thuộc về Chúa khi kư kết giao ước. Sống có luân lư chính là một cách đáp trả sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa. Đó chính là sự tri ân và tôn kính dành cho Thiên Chúa, đồng thời là sự thờ phượng trong tâm t́nh biết ơn. Đó cũng là cộng tác vào kế hoạch mà Thiên Chúa đang theo đuổi trong ḍng lịch sử”24.

Mười Điều Răn tạo nên một con đường sống đặc biệt và an toàn nhất để được tự do khỏi bị nô lệ tội lỗi - cũng là một cách diễn đạt đặc biệt của luật tự nhiên. Mười Điều Răn “dạy chúng ta biết thế nào là làm người thật sự. Chúng chỉ cho chúng ta thấy những nghĩa vụ thiết yếu, và do đó, một cách gián tiếp, chúng cho chúng ta thấy những quyền căn bản nằm trong bản tính con người”25. Chúng mô tả cho chúng ta biết luân lư chung của con người là ǵ. Trong Tin Mừng, chính Đức Giêsu đă nhắc nhở chàng thanh niên giàu có rằng Mười Điều Răn (x. Mt 19,18) “chính là những quy luật thiết yếu cho mọi đời sống xă hội”26.

23. Từ Mười Điều Răn ấy, chúng ta thấy ḿnh phải cam kết không những trung thành với một Thiên Chúa chân thật duy nhất, mà c̣n phải có những mối quan hệ xă hội thế nào giữa dân giao ước với nhau. Đặc biệt những mối quan hệ này được quy định bởi điều được gọi là quyền của người nghèo: “Nếu người nào trong các ngươi nghèo, một người trong anh chị em các ngươi…, các ngươi không được đóng ḷng hay khoá tay lại, mà phải mở rộng tay với người ấy và cho người ấy vay đủ cái người ấy cần” (Đnl 15,7-8). Những điều này cũng áp dụng cho cả người ngoại quốc: “Khi có người ngoại quốc cư ngụ với các ngươi trên đất các ngươi, các ngươi không được làm hại người ấy. Người ngoại quốc cư ngụ với các ngươi cũng được coi như người bản xứ như các ngươi, các ngươi sẽ yêu thương người ấy như chính ḿnh; v́ các ngươi cũng đă từng là người ngoại quốc trên đất Ai Cập. Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,33-34). Như thế, việc ban tự do và Đất Hứa, ban Giao Ước trên núi Sinai và Mười Điều Răn, tất cả những ân huệ ấy đều được gắn liền với những bổn phận sẽ chi phối quá tŕnh phát triển xă hội Israel, trong công bằng và liên đới.

24. Trong số nhiều chuẩn mực diễn tả cách cụ thể sự cho không của Thiên Chúa và việc chia sẻ sự công bằng như Chúa đă thôi thúc, luật Năm Sabat (cứ bảy năm một lần) và luật Năm Toàn Xá (cứ năm mươi năm một lần)27 được coi là những chỉ dẫn quan trọng cho đời sống xă hội và kinh tế của dân Israel – dù rất tiếc chúng không bao giờ được thực hiện cách hoàn toàn hữu hiệu trong lịch sử. Không kể việc yêu cầu để ruộng đồng nghỉ ngơi, luật c̣n đ̣i người Israel xoá hết nợ nần và tha bổng cho cả người lẫn của cải: ai nấy được tự do trở về nguyên quán của ḿnh và lấy lại những tài sản đă được thừa kế một cách tự nhiên.   

Luật này nhằm bảo đảm cho thấy biến cố cứu độ Xuất Hành khỏi Ai Cập và việc trung thành với Giao Ước không chỉ là nguyên tắc làm nền cho đời sống xă hội, chính trị và kinh tế, mà c̣n là nguyên tắc hướng dẫn giải quyết các vấn đề liên quan tới sự nghèo đói về kinh tế và các bất công xă hội. Nguyên tắc này thường được viện đến mỗi khi người ta muốn canh tân đời sống của dân Giao Ước, từ bên trong và liên tục, hầu làm cho đời sống của họ phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa. Để loại trừ sự kỳ thị và những bất b́nh đẳng về kinh tế do những sự thay đổi trong kinh tế và xă hội gây ra, cứ bảy năm, người ta nhớ lại biến cố Xuất Hành và Giao Ước bằng những hành vi xă hội và pháp lư, nhằm trả lại ư nghĩa sâu xa nhất cho những khái niệm về nghèo đói, nợ nần, vay mượn và của cải.

25. Các luật cử hành Năm Sabat và Năm Toàn Xá chính là một h́nh thức “học thuyết xă hội” thu nhỏ28. Chúng cho thấy các nguyên tắc của công lư và liên đới xă hội đă được cảm hứng thế nào từ hành vi cứu độ vô vị lợi của Thiên Chúa. Chúng không chỉ có giá trị sửa chữa những tập tục bị chi phối bởi các quyền lợi và mục tiêu ích kỷ, mà c̣n như một lời tiên tri cho tương lai, chúng đă trở thành những điểm tham khảo mang tính quy phạm mà mỗi thế hệ Israel phải tuân thủ nếu muốn trung thành với Thiên Chúa của ḿnh.

Những nguyên tắc này cũng trở thành tiêu điểm cho các ngôn sứ nhắm tới khi giảng dạy, bằng cách giúp người ta đưa chúng vào nội tâm. Theo lời dạy của các ngôn sứ, Thần Khí Thiên Chúa, được đổ vào tâm hồn con người, sẽ làm cho những t́nh cảm về công lư và liên đới ấy, từng hiện diện trong tâm hồn Đức Chúa, bám rễ trong ḷng mọi người (x. Gr 31,33 và Ez 36,26-27). Lúc ấy, ư muốn của Thiên Chúa – được diễn tả trong Mười Điều Răn mà Ngài đă ban cho họ trên núi Sinai – sẽ bám rễ trong nơi sâu xa nhất của con người. Nhờ tiến tŕnh nội tâm hoá này mà các hành vi xă hội của con người có được chiều sâu và được hiện thực nhiều hơn, có thể làm cho các thái độ đối với công lư và liên đới dần dần trở thành những thái độ phổ quát, mà dân Giao Ước được mời gọi thi hành đối với hết mọi người trong mọi quốc gia và dân tộc.

b. Nguyên tắc sáng tạo và hành động tặng không của Thiên Chúa

26. Suy tư của các Tiên Tri và suy tư trong Văn Chương Khôn ngoan, để đi tới nguyên tắc mọi sự đều do Thiên Chúa tạo thành, đă đề cập đến lần đầu tiên việc Thiên Chúa bày tỏ kế hoạch của Ngài đối với toàn thể nhân loại và nguyên tắc này cũng trở thành nguồn cội cho toàn thể kế hoạch dành cho con người. Trong cách tuyên xưng niềm tin của người Israel, xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá, điều này không có nghĩa chỉ là bày tỏ một niềm tin lư thuyết, mà c̣n nắm bắt được tầm mức rộng lớn của hành vi tặng không mà Thiên Chúa nhân hậu đă làm cho con người. Thật vậy, Thiên Chúa hoàn toàn tự do khi trao ban sự hiện hữu và sự sống cho tất cả mọi sự đang có. Chính v́ lư do đó, người nam cũng như người nữ, đă được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa (x. St 1,26-27), được mời gọi hăy trở thành dấu chỉ hữu h́nh và dụng cụ hữu hiệu để tỏ lộ hành vi tặng không của Thiên Chúa khi đặt họ vào vườn để canh tác và trông coi các công tŕnh sáng tạo.

27. Chỉ trong hành vi tự do của Thiên Chúa Tạo Hoá, chúng ta mới t́m được ư nghĩa chính xác của việc tạo dựng, dù rằng công tŕnh tạo dựng này đă bị tội lỗi làm biến dạng. Thật vậy, tŕnh thuật về cái tội đầu tiên (x. St 3,1-24) cho thấy nhân loại bị cám dỗ liên tục và sống trong t́nh cảnh xáo trộn sau khi tổ tiên ḿnh sa ngă. Bất tùng phục Thiên Chúa tức là né tránh sự chăm sóc yêu thương của Ngài và đ̣i kiểm soát cuộc đời và hành vi của ḿnh trong thế giới. Cắt đứt mối quan hệ hiệp thông với Thiên Chúa là gây ra đổ vỡ trong chính sự thống nhất nội tâm của con người, trong những mối quan hệ giữa người nam và người nữ, cũng như trong những mối quan hệ hài hoà giữa loài người và các thụ tạo khác29. Muốn t́m gốc rễ sâu xa nhất của mọi tệ đoan đang ảnh hưởng tới các mối quan hệ xă hội giữa con người với nhau, của tất cả những t́nh huống trong đời sống kinh tế và chính trị đang tấn công phẩm giá con người, đang hăm hại công lư và t́nh liên đới, th́ phải t́m trong lần xa cách chia ĺa đầu tiên ấy.

II. ĐỨC GIÊSU KITÔ, SỰ HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA CHA

a. Nơi Đức Giêsu Kitô, biến cố mang tính quyết định trong lịch sử quan hệ của Thiên Chúa với loài người được thực hiện

28. Ḷng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa đă thúc đẩy Ngài hành động, đồng thời đă cho chúng ta ch́a khoá để hiểu các hành động ấy, nay trở nên gần gũi con người đến nỗi chúng mang dáng dấp của một con người, tên là Giêsu, tức là Ngôi Lời đă thành xương thành thịt. Trong Tin Mừng thánh Luca, Đức Giêsu mô tả tác vụ cứu thế của ḿnh bằng những lời lẽ của Isaia, cho chúng ta biết ư nghĩa tiên tri của năm toàn xá: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, v́ Ngài đă xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, công bố ơn giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù sáng mắt, giải phóng những ai bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19; x. Is 61,1-2). Như thế, Đức Giêsu đă tự xếp ḿnh vào hàng ngũ những người hoàn tất, không phải chỉ v́ Người đă thực hiện những ǵ Thiên Chúa đă hứa và những ǵ dân Isarel chờ đợi, mà sâu xa hơn c̣n v́, biến cố mang tính quyết định trong lịch sử, quan hệ của Thiên Chúa với con người đă được thực hiện nơi Đức Giêsu. V́ thế, Người mới dám tuyên bố: “Ai thấy Ta là đă thấy Cha” (Ga 14,9). Nói cách khác, Đức Giêsu chính là bằng chứng để chúng ta thấy tận mắt Thiên Chúa đă hành động quả quyết thế nào đối với con người.

29. T́nh yêu thôi thúc Đức Giêsu thi hành sứ vụ giữa loài người chính là t́nh yêu Người đă nghiệm thấy khi kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Tân Ước giúp chúng ta đi sâu hơn trong kinh nghiệm mà Đức Giêsu đă từng sống và truyền đạt cho chúng ta, kinh nghiệm về t́nh yêu của Chúa Cha, mà Người gọi là “Abba, Cha ơi!”, và từ đó, giúp chúng ta đi vào chính trung tâm đời sống Thiên Chúa. Đức Giêsu loan báo t́nh thương giải phóng của Thiên Chúa cho những ai Người gặp trên đường của ḿnh, trước hết là những người nghèo, những người bị gạt ra bên lề, những người tội lỗi. Người mời gọi tất cả mọi người đi theo Người v́ Người là người đầu tiên tùng phục kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, và Người làm việc này một cách hết sức đặc biệt như người sứ giả được Thiên Chúa sai đến thế gian.

Việc Đức Giêsu ư thức ḿnh là Con là một biểu hiện của kinh nghiệm ưu tiên đó. Con được Cha ban cho mọi thứ và được ban cho một cách hoàn toàn tự do: “Mọi sự của Cha đều là của Thầy” (Ga 16,15). Đến lượt ḿnh, sứ mạng của Người là làm cho mọi người chia sẻ hồng ân ấy và chia sẻ quan hệ con cái ấy: “Thầy không c̣n gọi anh em là tôi tớ nữa v́ tôi tớ không biết việc chủ làm; nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu v́ tất cả những ǵ Thầy nghe thấy nơi Cha Thầy, Thầy đă cho anh em biết” (Ga 15,15).

Đối với Đức Giêsu, nhận ra t́nh yêu của Chúa Cha có nghĩa là phải uốn nắn các hành vi của ḿnh theo ḷng thương xót và vô vị lợi của Thiên Chúa; chính những điều này làm cho sự sống mới được khai sinh. Hay có nghĩa là trở nên tấm gương và khuôn mẫu cho các môn đệ từ chính sự hiện hữu của ḿnh. Những ai đi theo Đức Kitô được kêu gọi hăy sống như Người, và sau khi Người vượt qua cái chết và sống lại, c̣n phải sống trong Người và nhờ Người, dựa vào một hồng ân hết sức phong phú là Chúa Thánh Thần, c̣n gọi là Đấng An Ủi, Ngài sẽ t́m cách đưa nếp sống riêng của Đức Kitô vào trong tâm hồn con người.

b. Mạc khải t́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi

30. Trước sự ngạc nhiên không ngừng của những người đă từng cảm nghiệm t́nh yêu khôn tả của Thiên Chúa (x. Rm 8,26), Tân Ước dựa vào mạc khải đầy đủ về t́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, được bày tỏ trong cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu Kitô, để cho chúng ta hiểu đâu là ư nghĩa cuối cùng của mầu nhiệm Chúa Con Nhập thể và sứ mạng của Người giữa muôn người. Thánh Phaolô viết: “Nếu Thiên Chúa đă bênh vực chúng ta, ai dám chống lại chúng ta? Thiên Chúa đă không tha chính Con ḿnh mà đă trao nộp Người v́ tất cả chúng ta, chẳng lẽ Thiên Chúa sẽ không trao cho chúng ta mọi sự cùng với Người Con ấy?” (Rm 8,31-32). Thánh Gioan cũng nói tương tự như thế: “T́nh yêu cốt ở điều này, là không phải chúng ta yêu Thiên Chúa nhưng chính Ngài yêu thương chúng ta trước và đă gửi Con ḿnh đến đền tội thay cho chúng ta” (1 Ga 4,10).

31. Dung mạo Thiên Chúa, dần dần được tỏ lộ trong lịch sử cứu độ, chiếu sáng trong tất cả đường nét của ḿnh nơi dung mạo Đức Giêsu Kitô, Đấng đă bị đóng đinh và đă sống lại từ cơi chết. Thiên Chúa ấy là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần; thật sự riêng biệt và thật sự là một, v́ Thiên Chúa là sự hiệp thông vô tận của yêu thương.

T́nh yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho nhân loại được mạc khải trước tiên như một t́nh yêu xuất phát từ Cha – từ đó mọi sự được khơi nguồn; rồi như một t́nh yêu được truyền thông tự do cho Con, và đến lượt ḿnh, Con cũng hiến thân cho Cha và cho loài người; cuối cùng như một thành quả luôn mới mẻ của t́nh yêu Thiên Chúa mà Thánh Thần sẽ đổ vào ḷng con người (x. Rm 5,5).

Bằng lời nói và việc làm, cũng như một cách trọn vẹn và dứt khoát, bằng cái chết và sự sống lại của ḿnh30, Đức Giêsu đă mạc khải cho nhân loại thấy Thiên Chúa là Cha và tất cả chúng ta đều được mời gọi trở nên con cái Ngài trong Thánh Thần (x. Rm 8,15; Gl 4,6), và từ đó trở nên anh chị em với nhau. Chính v́ lư do này mà Giáo Hội tin chắc rằng “bí quyết, trung tâm và mục tiêu của toàn bộ lịch sử nhân loại đều ở nơi Đức Giêsu Kitô, là Chúa và là Thầy của ḿnh”31.

32. Khi suy niệm về món quà tặng không rất dồi dào là Chúa Con mà Thiên Chúa Cha đă ban, một điều mà Đức Giêsu đă giảng dạy và đă làm chứng bằng cách xả thân v́ chúng ta, tông đồ Gioan đă khám phá ra ư nghĩa sâu xa nhất và hiệu quả hợp lư nhất của món quà ấy. “Hỡi các con yêu dấu, nếu Thiên Chúa yêu chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau. Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ; nếu chúng ta yêu thương nhau, Thiên Chúa sẽ ở trong chúng ta và t́nh yêu của Ngài đă trở nên tuyệt hảo nơi chúng ta” (1 Ga 4,11-12). Sự trao đổi trong t́nh yêu là điều được yêu cầu trong lệnh truyền mà Đức Giêsu gọi là “điều răn mới” và cũng là “điều răn của Người”: “đó là anh em hăy yêu thương nhau; như Thầy đă yêu thương anh em, anh em cũng phải yêu thương nhau” (Ga 13,34). Yêu thương nhau chính là cách để chúng ta sống đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi trong Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Kitô, và là cách để chúng ta làm thay đổi lịch sử cho tới khi lịch sử ấy hoàn thành mỹ măn trong Giêrusalem thiên quốc.

33. Điều răn yêu thương nhau, tượng trưng cho luật sống của dân Chúa32, phải là nguồn cảm hứng, nguồn thanh lọc và nâng cao mọi quan hệ nhân loại trong xă hội và trong chính trị. “Làm người có nghĩa là được mời gọi hiệp thông giữa người với người”33, v́ được làm h́nh ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi và giống Thiên Chúa Ba Ngôi, đó chính là nền tảng cho toàn bộ “đạo đức học của con người”, đạo đức học này đạt tới cao điểm trong điều răn yêu thương”34. Hiện tượng lệ thuộc nhau về văn hoá, xă hội, kinh tế và chính trị trong thế giới hiện nay làm tăng cường và làm rơ hơn mối dây thống nhất gia đ́nh nhân loại, một lần nữa lại làm nổi bật trong ánh sáng của mạc khải “một mô h́nh mới của sự hợp nhất nhân loại, mô h́nh này hẳn phải tạo cảm hứng cho chúng ta liên đới với nhau. Mô h́nh hợp nhất ấy, phản ánh sự sống thân mật của Thiên Chúa – một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi, đó chính là điều mà các Kitô hữu muốn diễn tả khi nói tới “hiệp thông35.

III. CON NGƯỜI TRONG KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA

a. T́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi là nguồn gốc và là mục tiêu của con người

34. Khi mầu nhiệm Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Kitô như t́nh yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, th́ đồng thời ơn gọi của con người là yêu thương cũng được mạc khải. Mạc khải này soi sáng cho chúng ta hiểu phẩm giá con người và sự tự do của con người trong mọi khía cạnh, cũng như hiểu bản tính xă hội của con người một cách sâu xa. “Là con người theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa… cũng là được hiện hữu trong một tương quan, trong tương quan với một ‘cái tôi’ khác36, v́ bản thân Thiên Chúa – vừa là một vừa là ba – chính là sự hiệp thông giữa Cha, Con và Thánh Thần”.

Con người được mời gọi hăy khám phá nguồn gốc và mục tiêu của cuộc đời và lịch sử đời ḿnh nơi sự hiệp thông yêu thương của Thiên Chúa, v́ nơi đó Ba Ngôi yêu thương nhau và chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng), các Nghị phụ Công đồng dạy rằng “khi cầu xin Cha ‘cho chúng nên một… như Chúng Ta là một’ (Ga 17,21-22), Chúa Giêsu Kitô đă mở ra những chân trời mới mà lâu nay trí khôn con người chưa khám phá, đó là nh́n nhận có một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của con cái Thiên Chúa trong sự thật và t́nh yêu. Sự tương tự này cho thấy nếu con người là thụ tạo duy nhất trên thế gian này mà Thiên Chúa muốn tạo dựng v́ chính con người, th́ con người chỉ có thể khám phá ra bản ngă đích thực của ḿnh khi chân thành trao ban chính ḿnh (x. Lc 17,33)”37.

35. Mạc khải Kitô giáo đă chiếu ánh sáng mới mẻ cho chúng ta hiểu bản sắc, ơn gọi và định mệnh cuối cùng của con người và của nhân loại. Mỗi người đều do Thiên Chúa tạo dựng, đều được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, và sẽ tự hoàn thành chính ḿnh bằng cách thiết lập mạng lưới quan hệ yêu thương, công bằng và liên đới với những người khác, khi tiến hành các việc làm khác nhau trong thế giới. Bất cứ hoạt động nào của con người mà giúp phát huy phẩm giá và ơn gọi đầy đủ của con người, đẩy mạnh các điều kiện sống cho có chất lượng và giúp các dân tộc, các quốc gia liên đới với nhau, đều là những hoạt động phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng không ngừng bày tỏ t́nh yêu và sự quan tâm lo lắng cho con cái ḿnh.

36. Các trang đầu tiên của cuốn sách thứ nhất trong Thánh Kinh, khi mô tả con người được tạo dựng theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa (x. St 1,26-27), đă bao gồm một giáo huấn cơ bản về bản sắc và ơn gọi của con người. Chúng cho chúng ta biết rằng tạo dựng con người là một hành vi hoàn toàn tự nguyện và vô điều kiện của Thiên Chúa; v́ là những con người tự do và có hiểu biết, nên con người chính là “tha nhân” do Chúa sáng tạo, và chỉ khi liên hệ với Ngài, con người mới khám phá ra, mới thực hiện được đúng đắn và đầy đủ ư nghĩa của đời sống cá nhân cũng như xă hội của ḿnh. Chúng c̣n cho ta hiểu rằng chính khi con người bổ túc cho nhau và trao đổi với nhau, con người mới là h́nh ảnh t́nh yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa trong vũ trụ. Đấng Tạo Hoá cũng trao cho con người, chóp đỉnh của công tŕnh tạo dựng, nhiệm vụ sắp xếp thiên nhiên được tạo thành ấy theo ư định của Ngài (x. St 1,28).

37. Sách Sáng Thế c̣n cung cấp cho chúng ta một số nền tảng làm nên khoa nhân học Kitô giáo như phẩm giá bất khả chuyển nhượng của con người, gốc rễ và bảo chứng của phẩm giá ấy nằm trong ư định sáng tạo của Thiên Chúa; bản tính xă hội chủ yếu của con người mà mẫu gốc của bản tính ấy là mối quan hệ nguyên thuỷ giữa người nam và người nữ, sự kết hợp của hai người này “chính là h́nh thức hiệp thông đầu tiên giữa con người với con người”38. Ư nghĩa của những hoạt động con người thực hiện trong thế giới có liên quan tới việc khám phá và tôn trọng các định luật tự nhiên do Thiên Chúa khắc ghi trong vũ trụ mà Ngài đă tạo thành, để con người có thể sống trong vũ trụ ấy và chăm sóc vũ trụ ấy theo ư muốn của Thiên Chúa. Cái nh́n về con người, xă hội và lịch sử này bám rễ rất sâu trong Thiên Chúa và sẽ được thấy rơ hơn nữa khi kế hoạch cứu độ trở thành hiện thực.

b. Sự cứu độ của Kitô giáo: dành cho hết mọi người và cho con người toàn diện

38. Sự cứu độ do sáng kiến của Chúa Cha được gửi tặng cho con người một cách sung măn trong Đức Giêsu Kitô, rồi được thực hiện và truyền lại cho chúng ta nhờ hoạt động của Thánh Thần, là sự cứu độ dành cho hết mọi người và là sự cứu độ toàn diện con người: đó là sự cứu độ phổ quát và toàn diện. Nó liên quan đến con người trong hết mọi chiều hướng: chiều hướng cá nhân lẫn xă hội, thể lư lẫn tâm linh, lịch sử lẫn siêu việt. Nó đă bắt đầu trở thành một hiện thực trong lịch sử v́ bất cứ điều ǵ được tạo dựng đều tốt và đều do Chúa muốn, cũng như v́ Con Thiên Chúa đă trở nên một người giữa chúng ta39. Tuy nhiên, để hoàn tất, nó c̣n phải chờ đến tương lai khi mọi người chúng ta, cùng với toàn thể thụ tạo (x. Rm 8), được chia sẻ sự sống lại của Đức Kitô và được hiệp thông vĩnh viễn vào sự sống của Chúa Cha trong niềm vui của Thánh Thần. Quan niệm như thế đă cho thấy rơ sai lầm và dối trá của những cái nh́n thuần tuư nội tại về ư nghĩa của lịch sử và của những ai đ̣i tự cứu lấy ḿnh.

39. Sự cứu độ mà Thiên Chúa gửi tặng con cái Ngài đ̣i hỏi họ phải tự nguyện hưởng ứng và chấp nhận. Đức tin cốt ở tại điều ấy, và thông qua việc này, “con người tự nguyện hiến dâng trọn vẹn bản thân ḿnh cho Chúa”40, đáp lại t́nh yêu đi bước trước và rất dồi dào của Thiên Chúa (x. 1 Ga 4,10) bằng cách yêu thương anh chị em ḿnh một cách cụ thể và bằng cách luôn sống trong hy vọng, v́ “Đấng đă hứa với chúng ta là Đấng luôn trung thành” (Dt 10,23). Thật ra, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa không khiến con người phải ở thế thụ động hay lép vế khi liên hệ với Đấng Tạo Hoá, v́ mối quan hệ của chúng ta với Chúa, như Đức Kitô đă mạc khải cho chúng ta và đă t́nh nguyện nhờ Thánh Thần biến chúng ta thành những người đồng thừa tự, chính là mối quan hệ của con cái đối với cha ḿnh, cũng chính là mối quan hệ mà Đức Giêsu đă từng sống với Chúa Cha (x. Ga 15-17; Gl 4,6-7).

40. Chính v́ ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại vừa phổ quát vừa toàn diện, nên mối quan hệ mà mỗi người chúng ta được mời gọi liên kết với Chúa không thể tách rời khỏi trách nhiệm chúng ta phải thi hành đối với anh em ḿnh trong những hoàn cảnh cụ thể của lịch sử. Điều này chúng ta có thể cảm nhận qua sự t́m kiếm của hết mọi người đi t́m sự thật và ư nghĩa cuộc đời, dù không phải lúc nào cũng tránh được sự hồ đồ hay ngộ nhận. Sự t́m kiếm ấy cũng là nền tảng cho Thiên Chúa kư kết giao ước với dân Israel, như các tấm bia ghi Mười Điều Răn và giáo huấn của các ngôn sứ đă chứng nhận.

Tương quan này càng trở nên rơ ràng và chính xác hơn trong giáo huấn của Đức Giêsu, đồng thời được xác nhận cách dứt khoát qua bằng chứng tuyệt vời của Người khi hy sinh mạng sống ḿnh v́ vâng theo ư muốn của Chúa Cha và v́ yêu thương anh chị em ḿnh. Khi nghe một kinh sư hỏi “Điều răn nào là quan trọng nhất?” (Mc 12,28), Đức Giêsu đă trả lời: “Điều răn thứ nhất là: ‘Hỡi Israel, hăy lắng nghe: Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi là Đấng duy nhất; ngươi phải yêu mến Ngài với hết cả tâm hồn, linh hồn, trí khôn, và hết sức lực ngươi’. C̣n điều răn thứ hai là: ‘Ngươi phải yêu thương người lân cận như chính ḿnh. Không có điều răn nào lớn hơn hai điều răn ấy” (Mc 12,29-31).

Trong tâm hồn con người, hai điều này liên kết với nhau chặt chẽ đến nỗi không thể tách rời nhau: đó là mối quan hệ với Chúa – như là Đấng Tạo Hoá và như là người Cha của ḿnh, mối quan hệ này là nguồn gốc và là đích điểm của sự sống và sự cứu độ – và sự cởi mở để yêu thương con người một cách cụ thể, như yêu thương chính bản thân ḿnh, kể cả khi người ấy là kẻ thù (x. Mt 5,43-44). Phân tích tới cùng, chúng ta sẽ thấy việc cam kết thực thi công bằng và liên đới để xây dựng một cuộc sống xă hội, kinh tế và chính trị theo đúng kế hoạch của Chúa đă bắt nguồn từ nội tâm sâu xa của con người.

c. Môn đệ của Đức Kitô là một thụ tạo mới 

41. Đời sống cá nhân và xă hội, cũng như bất cứ hành vi nào của con người trong thế giới, luôn luôn bị tội lỗi đe doạ. Thế nhưng, “bằng cách chịu khổ v́ chúng ta…, Đức Giêsu Kitô không những làm gương cho chúng ta để chúng ta bước theo Người, mà Người c̣n mở ra cho chúng ta một con đường. Nếu đi theo con đường ấy, cuộc sống và cái chết của chúng ta sẽ được thánh hoá và mặc một ư nghĩa mới”41. Trong đức tin và thông qua các bí tích, người môn đệ Đức Kitô gắn bó mật thiết với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu để con người cũ của ḿnh, cùng với những khuynh hướng xấu, chịu đóng đinh với Đức Kitô. Rồi khi trở thành thụ tạo mới, họ được ân sủng tăng sức để có thể “bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,4). Điều này “không chỉ đúng với các Kitô hữu, mà c̣n đúng đối với mọi người thiện chí, v́ ân sủng vẫn đang hoạt động cách vô h́nh trong tâm hồn những người ấy. V́ Đức Kitô đă chết cho mọi người và v́ ai ai cũng được mời gọi hưởng chung một định mệnh duy nhất – một định mệnh thần thánh – nên chúng ta phải tin rằng Thánh Thần sẽ ban cho mọi người khả năng trở thành những người tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua, bằng cách nào chỉ có Chúa biết mà thôi”42.

42. Sự biến đổi nội tâm con người, làm cho họ dần dần trở nên giống Đức Kitô, chính là điều kiện tiên quyết cần thiết để các mối quan hệ của họ với người khác được biến đổi thật sự. “Thế nên, cần lưu ư tới những khả năng tâm linh và luân lư của con người, cũng như nhu cầu cần hoán cải nội tâm thường xuyên, để tạo ra những thay đổi về xă hội thực sự có ích cho họ. Nh́n nhận thế ưu tiên của việc hoán cải tâm hồn không có nghĩa là loại bỏ, trái lại c̣n bắt chúng ta phải t́m những phương dược thích hợp để sửa chữa các tổ chức và các điều kiện sống có nguy cơ dẫn tới tội, để chúng trở nên phù hợp với các chuẩn mực của công bằng, thúc đẩy điều tốt hơn là ngăn cản điều tốt”43.

43. Không thể yêu tha nhân như chính ḿnh và kiên tŕ giữ vững cách sống ấy nếu không có quyết tâm vững vàng và liên tục để làm cho mọi người và mỗi người được tốt, v́ ai trong chúng ta cũng thật sự chịu trách nhiệm về mọi người44. Theo giáo huấn của Công đồng, “mọi người đều có quyền đ̣i chúng ta phải kính trọng và yêu thương, dù họ suy nghĩ và hành động khác với chúng ta về các vấn đề xă hội, chính trị và tôn giáo. Thật vậy, càng t́m hiểu sâu xa lề lối suy nghĩ của họ qua ḷng tốt và yêu thương của ḿnh, chúng ta càng có khả năng đối thoại với họ dễ dàng hơn”45. Muốn theo con đường này, chúng ta cần có ơn Chúa: Chúa sẽ ban cho con người ơn ấy để giúp con người vượt thắng các khuyết điểm, để kéo con người ra khỏi ṿng luẩn quẩn của dối trá và bạo động, để nâng đỡ và thôi thúc con người khôi phục lại, với một tinh thần luôn luôn mới mẻ và sẵn sàng, cả một mạng lưới quan hệ trung thực và đúng đắn với anh chị em đồng loại của ḿnh46.

44. Ngay cả mối quan hệ với vũ trụ được tạo dựng và các hoạt động của con người nhằm chăm sóc và biến đổi vũ trụ ấy cũng luôn luôn bị đe doạ bởi tính kiêu ngạo và t́nh yêu vị kỷ vô trật tự của con người, nên cần phải được thanh luyện và kiện toàn bằng thập giá và sự phục sinh của Đức Kitô. “Được Đức Kitô cứu chuộc và được Thánh Thần biến đổi thành thụ tạo mới, con người có khả năng, thậm chí có bổn phận yêu thương mọi sự trong công tŕnh tạo dựng của Chúa: con người tiếp nhận chúng từ Thiên Chúa, con người phải ngắm nh́n và tôn trọng chúng như chúng đang được ban ra từ bàn tay Thiên Chúa. Con người phải cám ơn vị ân nhân thần linh ấy về tất cả các điều đó, sử dụng và thụ hưởng chúng trong tinh thần khó nghèo và tự do. Bằng cách đó, con người thật sự làm chủ thế giới như thể không có ǵ hết nhưng lại có tất cả: “Mọi sự là của anh em; nhưng anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa” (1 Cr 3,22-23)47.

d. Ơn cứu độ siêu việt và các thực tại trần thế độc lập

45Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người, trong Người và nhờ Người, thế giới và con người đạt tới được sự thật đích thực và trọn vẹn của ḿnh. Mầu nhiệm Thiên Chúa vô cùng gần gũi với con người – điều này được thực hiện qua cuộc Nhập Thể của Đức Giêsu Kitô, Đấng đă hiến ḿnh trên thập giá và đă hy sinh chịu chết – cho thấy càng nh́n các thực tại của con người trong kế hoạch của Thiên Chúa và càng sống các thực tại ấy trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, các thực tại ấy càng được tăng thêm sức mạnh và càng được giải phóng cho hợp với bản sắc riêng của chúng và hợp với tự do riêng của chúng. Chia sẻ đời sống làm con cùng với Đức Kitô, nhờ cuộc Nhập Thể và nhờ quà tặng của Thánh Thần trong mầu nhiệm Vượt Qua, không phải là huỷ hoại mà là giúp giải phóng các đặc điểm và bản sắc thật sự và độc lập, cũng là nét làm nên con người với những sự biểu hiện khác nhau.

Cách nh́n này dẫn đến một cách tiếp cận đúng đắn các thực tại trần thế và sự độc lập của các thực tại ấy, đó là điều đă được Công đồng Vatican II lưu ư mạnh mẽ: “Nếu nói đến sự độc lập của các việc trần thế mà hiểu rằng các sự việc trần thế và xă hội tự chúng có những quy luật riêng và những giá trị riêng, và chúng ta có bổn phận phải khám phá dần dần để sử dụng và điều hoà, th́ hoàn toàn hợp lư khi chúng ta đ̣i hỏi sự độc lập ấy cho các sự việc và xă hội trần thế. Điều ấy… cũng phù hợp với ư muốn của Đấng Tạo Hoá. Chính v́ được tạo thành như thế mà mọi sự được ban cho có sự ổn định, chân thật, tốt lành, cũng như luật lệ và trật tự riêng. Con người phải tôn trọng những điều này khi tách rời chúng bằng những phương pháp đặc thù của các khoa học hay nghệ thuật”48.

46. Không có sự xung đột giữa Thiên Chúa và con người, nhưng giữa hai bên có mối quan hệ yêu thương, theo đó, thế giới và các kết quả hoạt động của con người trong thế giới đều là món quà trao tặng cho nhau giữa Cha và con cái, hay giữa con cái với nhau, trong Đức Kitô Giêsu; trong Người và nhờ Người, thế giới và con người t́m được ư nghĩa đích thực và vốn có của cả hai. Nh́n t́nh yêu Thiên Chúa bao trùm lên tất cả mọi sự hiện hữu như thế, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa đă tỏ ḿnh cho chúng ta nơi Đức Kitô như một người Cha và như người ban tặng cho chúng ta sự sống; c̣n con người nhận tất cả mọi sự trong Đức Kitô từ nơi Thiên Chúa như nhận những quà tặng, một cách khiêm tốn và tự nguyện; con người cũng thấy ḿnh thực sự đang sở hữu mọi sự như của ḿnh chính khi con người ư thức và cảm nghiệm sự vật nào cũng là của Thiên Chúa, xuất phát từ Thiên Chúa và đang tiến về Thiên Chúa. Về điểm này, Công đồng Vatican II đă nói: “Nếu kiểu nói ‘sự độc lập của các sự việc trần thế’ được hiểu là các thụ tạo không lệ thuộc vào Thiên Chúa và con người có thể sử dụng chúng mà không liên hệ ǵ với Đấng Tạo Thành chúng, th́ bất cứ ai nh́n nhận Thiên Chúa đều thấy đó là kiểu nói hết sức sai lầm. V́ không có Đấng Tạo Hoá, thụ tạo sẽ biến mất”49.

47. Tự bản thân và trong ơn gọi của ḿnh, con người vốn vượt lên trên những giới hạn của vũ trụ, xă hội và lịch sử: mục tiêu tối hậu của con người là chính Thiên Chúa50, Đấng đă tự mạc khải ḿnh cho con người để mời gọi và tiếp nhận con người vào hiệp thông với ḿnh51. “Con người không thể trao ḿnh cho một kế hoạch thực tế thuần tuư của con người, cho một lư tưởng trừu tượng hay cho một điều không tưởng sai lầm. Trong tư cách là một ngôi vị, con người chỉ có thể trao ḿnh cho một ngôi vị khác hay cho các ngôi vị khác, và sau cùng, cho Thiên Chúa, là tác giả sự tồn tại của con người và là Đấng duy nhất có thể tiếp nhận sự trao thân gửi phận của con người”52. V́ lư do đó, “một người bị tha hoá khi không chịu vượt lên trên bản thân ḿnh và không chịu sống cái kinh nghiệm tự hiến, kinh nghiệm cùng với người khác làm nên cộng đồng nhân loại đích thực để đạt tới định mệnh cuối cùng của ḿnh, là chính Chúa. Một xă hội bị tha hoá khi do h́nh thức tổ chức, sản xuất và tiêu thụ của xă hội ấy khiến con người khó tự hiến bản thân ḿnh và khó thực hiện sự liên đới với người khác”53.

48. Không thể và không được dùng các cơ chế xă hội, kinh tế hay chính trị để lèo lái con người, v́ mỗi người đều có tự do để tự hướng dẫn ḿnh đạt tới mục tiêu tối thượng của ḿnh. Ngược lại, bất cứ thành quả văn hoá, xă hội, kinh tế và chính trị nào, qua đó bản tính xă hội của con người và những hoạt động biến đổi thế giới của con người được thể hiện ra trong lịch sử, đều phải luôn luôn được xem xét trong bối cảnh đó là những thực tại tương đối và tạm bợ, v́ “bộ mặt thế gian này đang qua đi” (1 Cr 7,31). Ở đây, chúng ta có thể nói tới “tính tương đối theo cánh chung học”, theo nghĩa con người và thế giới đang tiến về cùng đích của ḿnh, đó là hoàn thành định mệnh của ḿnh trong Thiên Chúa. Chúng ta cũng có thể gọi đó là “tính tương đối theo thần học”, v́ việc Thiên Chúa tặng ban chính ḿnh – qua đó định mệnh cuối cùng của con người và tạo thành sẽ được thực hiện – luôn lớn lao hơn những ǵ con người có thể làm được và kỳ vọng. Nếu vậy, bất cứ quan điểm độc tài nào về xă hội và Nhà Nước, cũng như bất cứ ư thức hệ chủ trương tiến bộ nội trong thế giới này thôi đều đi ngược lại sự thật toàn diện về con người và đi ngược lại kế hoạch của Thiên Chúa trong lịch sử.

IV. KẾ HOẠCH CỦA THIÊN CHÚA VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI

a. Giáo Hội là dấu chỉ và là người bảo vệ sự siêu việt của con người

49. Giáo Hội, cộng đồng những người đă được Đức Kitô Phục Sinh liên kết lại với nhau và đang lên đường bước theo Người, chính là “dấu chỉ và là người bảo vệ chiều hướng siêu việt của con người54. Giáo Hội ấy là “một loại bí tích trong Đức Kitô – tức là dấu chỉ và dụng cụ của sự hiệp thông với Thiên Chúa và sự hợp nhất giữa loài người với nhau”55. Sứ mạng của Giáo Hội là công bố và truyền đạt sự cứu độ đă có được trong Đức Giêsu Kitô, mà Người gọi là “Nước Chúa” (Mc 1,15), tức là sự hiệp thông với Thiên Chúa và sự hiệp thông giữa loài người với nhau. Mục tiêu của ơn cứu độ hay Nước Chúa bao trùm hết mọi người và được thực hiện cách trọn vẹn nơi Thiên Chúa, ở bên kia lịch sử. Giáo Hội tiếp nhận “sứ mạng công bố và thiết lập giữa muôn dân Nước Đức Kitô cũng là Nước Chúa; Giáo Hội cũng là hạt giống hay là bước khởi đầu của Nước ấy trên trần gian”56.

50. Giáo Hội tự đặt ḿnh một cách cụ thể vào vai tṛ phục vụ Nước Chúa trên hết mọi sự bằng cách loan báo và truyền đạt Tin Mừng cứu độ, cũng như bằng cách thiết lập những cộng đồng Kitô hữu mới. Ngoài ra, “Giáo Hội phục vụ Nước Chúa bằng cách phổ biến trên toàn thế giới các ‘giá trị của Tin Mừng’, cũng là cách diễn tả Nước Chúa và giúp người ta đón nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Sự thật th́ người ta có thể t́m thấy thực tại c̣n phôi thai của Nước Chúa bên ngoài biên giới Giáo Hội, nơi các dân tộc ở khắp mọi nơi, tuỳ theo họ sống các ‘giá trị của Tin Mừng’ nhiều tới đâu và tuỳ theo họ mở ḷng cho Thánh Thần hoạt động để Ngài thổi khi nào và đi đâu tuỳ ư (x. Ga 3,8). Nhưng phải nói thêm ngay rằng chiều hướng trần thế này của Nước Chúa vẫn c̣n dang dở bao lâu nó không liên kết với Nước Chúa Kitô đang hiện diện trong Giáo Hội và đang vươn tới mức viên măn trong ngày cánh chung”57. Từ đó, chúng ta có thể suy ra rằng không được lẫn lộn Giáo Hội với bất cứ cộng đồng chính trị nào và không được ràng buộc Giáo Hội vào bất cứ hệ thống chính trị nào58. Thật vậy, cộng đồng chính trị và Giáo Hội là hai thực thể tự trị và độc lập với nhau trong lĩnh vực riêng của ḿnh; cả hai, dù mang danh nghĩa khác nhau, đều đang “xả thân phục vụ thiên chức vừa có tính cá nhân vừa có tính xă hội của cùng một con người”59. Thật vậy, có thể khẳng định rằng sự phân biệt giữa tôn giáo và chính trị, cũng như đưa ra được nguyên tắc tự do tôn giáo, chính là thành quả đặc biệt do Kitô giáo mang lại và là một trong những đóng góp căn bản vào lịch sử và văn hoá của Kitô giáo.

51. Theo kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Kitô, “một mục tiêu cứu độ và cánh chung, chỉ đạt được trọn vẹn trong cuộc sống sau này”, là điều tương xứng với bản chất và sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới60. Chính v́ lư do này, Giáo Hội đóng góp một cách rất độc đáo, không ǵ có thể thay thế được, bằng cách lo sao cho gia đ́nh nhân loại và lịch sử nhân loại ngày càng mang tính nhân bản hơn, tự đặt ḿnh làm thành tŕ chống lại bất cứ toan tính độc tài nào khi Giáo Hội tỏ cho con người thấy ơn gọi toàn vẹn và dứt khoát của họ61.  

Bằng việc rao giảng Tin Mừng, bằng ân sủng từ các bí tích và bằng kinh nghiệm sống t́nh hiệp thông huynh đệ, Giáo Hội đă “chữa lành và nâng cao phẩm giá con người, củng cố xă hội và làm cho những hoạt động thường ngày của con người mang một nhận thức và ư nghĩa sâu xa hơn”62. Do đó, khi nh́n tới sức sống cụ thể trong lịch sử, người ta không thể phân biệt được Nước Chúa đang đến qua một tổ chức xă hội, kinh tế hay chính trị nhất định và rơ rệt nào. Đúng hơn, người ta sẽ thấy Nước Chúa đến thông qua ư thức xă hội của con người ngày càng lớn, như một chất men làm cho con người được phát triển trọn vẹn, sống công bằng và liên đới khi cởi mở đón nhận Đấng Siêu Việt như điểm tham khảo để con người dựa vào mà phát triển bản thân ḿnh cách đầy đủ.

b. Giáo Hội, Nước Chúa và sự đổi mới các quan hệ xă hội

52. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa không những cứu chuộc các cá nhân mà c̣n cứu chuộc các mối quan hệ xă hội đang có giữa con người với nhau. Như tông đồ Phaolô đă dạy, sống trong Đức Kitô sẽ làm cho bản sắc và ư thức xă hội của con người – cùng với những hậu quả cụ thể trên b́nh diện lịch sử và xă hội – xuất hiện đầy đủ và mới mẻ: “V́ trong Đức Giêsu Kitô, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa, nhờ đức tin. Tất cả anh em đều đă được rửa tội trong Đức Kitô và đă mặc lấy Đức Kitô. Không c̣n phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, v́ tất cả anh em đều là một trong Đức Kitô” (Gl 3,26-28). Nh́n trong viễn tượng ấy, các cộng đồng Giáo Hội, được liên kết nhờ thông điệp của Đức Giêsu Kitô và được quy tụ lại trong Thánh Thần chung quanh Chúa Phục Sinh (x. Mt 18,20; 28,19-20; Lc 24,46-49), đă t́nh nguyện trở thành những địa điểm hiệp thông, làm chứng và thi hành sứ mạng, cũng như làm thành chất xúc tác để cứu chuộc và biến đổi các mối quan hệ xă hội.

53. Việc biến đổi các mối quan hệ xă hội cho xứng với những đ̣i hỏi của Nước Chúa không chỉ được thực hiện trong các ranh giới cụ thể một lần là xong. Mà đúng hơn, đó là một nhiệm vụ được giao cho cộng đồng Kitô hữu để cộng đồng ấy khai triển và thực hiện qua những suy tư và thực hành do Tin Mừng soi sáng. Cũng một Thần Khí của Đức Chúa, vừa dẫn dắt dân Chúa vừa thâm nhập khắp vũ trụ63, thỉnh thoảng soi sáng cho nhân loại biết những phương cách vừa mới mẻ vừa thích hợp để thi hành trách nhiệm của ḿnh một cách sáng tạo64. Thần Khí ban cho cộng đồng Kitô hữu ơn soi sáng ấy: họ là một bộ phận của thế giới và của lịch sử nên luôn sẵn sàng đối thoại với hết mọi người thiện chí để cùng nhau t́m kiếm các hạt giống chân lư và tự do đă được gieo văi trong cánh đồng nhân loại bao la65. Để có được sự canh tân này một cách năng động, người ta phải gắn bó chặt chẽ với các nguyên tắc bất di dịch của luật tự nhiên, mà Thiên Chúa Tạo Hoá đă khắc ghi trong mỗi thụ tạo của Ngài (x. Rm 2,14-15) và đă chiếu ánh sáng cánh chung vào đó nhờ Đức Giêsu Kitô.

54. Đức Giêsu Kitô mạc khải cho chúng ta biết “Thiên Chúa là t́nh yêu” (1 Ga 4,8) và dạy chúng ta rằng “luật căn bản làm con người nên hoàn thiện, và từ đó, giúp cải tạo thế giới, chính là điều răn mới về t́nh yêu. Người bảo đảm với những ai tin vào t́nh yêu Thiên Chúa rằng con đường yêu thương ấy là con đường mở ra cho hết mọi người và nỗ lực xây dựng một t́nh huynh đệ đại đồng không phải là vô ích”66. Luật này được nêu ra để trở thành thước đo sau cùng và trở thành quy luật cho mọi động lực có liên quan tới các mối tương giao của con người. Tóm lại, đó chính là mầu nhiệm của Thiên Chúa, là T́nh yêu Ba Ngôi, là nền tảng làm cho con người, làm cho các quan hệ xă hội và các hoạt động trong thế giới của con người trở nên có ư nghĩa và giá trị, bao lâu con người đón nhận và tham gia vào mạc khải ấy thông qua Đức Kitô và trong Thánh Thần của Người.

55. Cải tạo thế giới cũng là một yêu cầu căn bản trong thời đại chúng ta. Đáp lại nhu cầu này, huấn quyền xă hội của Giáo Hội muốn đưa ra những câu trả lời mà các dấu chỉ của thời đại đ̣i hỏi, cho thấy t́nh yêu thương giữa loài người, theo cái nh́n của Chúa, chính là khí cụ mạnh mẽ nhất giúp thay đổi, cả trên b́nh diện cá nhân lẫn xă hội. Thật vậy, yêu thương nhau, chia sẻ t́nh yêu vô hạn của Thiên Chúa, chính là mục tiêu thật sự của nhân loại, mục tiêu trong lịch sử cũng như mục tiêu vượt lên trên lịch sử. Bởi đó, “phải cẩn thận phân biệt các tiến bộ trần gian với sự phát triển của Nước Chúa. Tuy nhiên, bao lâu sự tiến bộ trần gian có thể góp phần làm cho xă hội loài người được trật tự tốt đẹp hơn, th́ tiến bộ ấy vẫn có liên quan mật thiết đối với Nước Chúa”67.

c. Trời mới và đất mới

56. Lời hứa của Thiên Chúa và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô đă làm sống lại niềm hy vọng chắc chắn nơi các Kitô hữu về một chỗ ở mới mẻ và vĩnh cửu đă được chuẩn bị cho mỗi người, một trái đất mới nơi công lư ngự trị (x. 2 Cr 5,1-2; 2 Pr 3,13). “Sau khi sự chết đă bị khuất phục, con cái Chúa sẽ được sống lại trong Đức Kitô, những ǵ đă gieo trong yếu đuối và băng hoại sẽ mặc lấy sự bất hoại: đức ái và các việc làm của đức ái sẽ tồn tại và toàn thể vũ trụ mà Chúa đă tạo dựng cho con người sẽ được giải thoát khỏi kiếp phù vân”68. Niềm hy vọng này chẳng những không làm suy yếu mà c̣n làm tăng mối quan tâm của chúng ta đối với những ǵ cần làm trong thực tế hiện nay.

57. Những điều tốt đẹp – như phẩm giá con người, t́nh huynh đệ và sự tự do, tất cả những hoa trái tốt đẹp của thiên nhiên và công lao của con người – đă lan tràn khắp mặt đất nhờ Thánh Thần của Chúa và theo lệnh của Ngài, sau khi được thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ, được chiếu sáng và biến đổi, tất cả sẽ thuộc về vương quốc chân lư và sự sống, vương quốc thánh thiện và ân sủng, vương quốc công lư, t́nh yêu và hoà b́nh để Đức Kitô tŕnh lên cho Chúa Cha, và tại nơi đó, chúng ta sẽ một lần nữa gặp lại chúng. Những lời sau đây của Đức Kitô lúc bấy giờ sẽ lại vang lên v́ tất cả mọi người: “Ôi những người được Cha Ta chúc phúc, hăy đến hưởng vương quốc đă dọn sẵn cho các ngươi từ khi tạo dựng trời đất; v́ xưa Ta đói, các ngươi đă cho ăn; Ta khát, các ngươi đă cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đă tiếp đón; Ta trần truồng, các ngươi đă cho mặc; Ta đau ốm, các ngươi đă viếng thăm; Ta bị tù, các ngươi đă đến thăm… v́ khi các ngươi làm các điều ấy cho một anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đă làm cho chính Ta” (Mt 25,34-36.40).

58. Việc hoàn thành con người toàn diện trong Đức Kitô, thông qua ân ban của Thánh Thần, diễn ra trong lịch sử và được thực hiện qua những mối quan hệ cá nhân với những người khác, đến lượt những mối quan hệ này cũng đạt được sự trọn hảo nhờ những con người dấn thân cải thiện thế giới, trong công lư và hoà b́nh. Các hoạt động của con người trong lịch sử tự chúng cũng rất có ư nghĩa và rất có hiệu quả cho việc thiết lập vĩnh viễn Nước Chúa, cho dù đây vẫn măi măi là hồng ân do Chúa tặng ban, hoàn toàn mang tính siêu việt. Nếu biết tôn trọng trật tự khách quan của các thực tại trần thế và nếu được soi sáng bởi sự thật và t́nh yêu, các việc con người làm sẽ trở thành công cụ để xây dựng công lư và hoà b́nh được đầy đủ và toàn vẹn hơn, đồng thời thực hiện trước Nước Chúa đă được hứa hẹn ngay từ bây giờ.

Khi làm cho ḿnh trở nên giống Đức Kitô Cứu Thế, con người sẽ thấy ḿnh đúng là thụ tạo mà Chúa đă muốn và đă chọn từ đời đời, đă gọi tới hưởng ân sủng và vinh quang trong mầu nhiệm sung măn mà họ được chia sẻ nhờ Đức Giêsu Kitô69. Trở nên giống Đức Kitô và được chiêm ngắm thánh nhan Người70 sẽ làm cho các Kitô hữu cảm thấy khao khát cách mănh liệt được nếm trước ngay trong thế giới này, ngay trong bối cảnh các mối quan hệ của con người, điều sẽ là hiện thực trong thế giới tương lai. Chính v́ thế, người Kitô hữu sẵn sàng chia sẻ đồ ăn, thức uống, quần áo, nơi ở, sự chăm sóc, tiếp đón và t́nh bằng hữu cho Chúa khi Người gơ cửa nhà ḿnh (x. Mt 25,35-37).

d. Đức Maria và lời “xin vâng” trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa

59. Người thừa kế niềm hy vọng thánh thiện trong dân Israel và người đầu tiên trong hàng ngũ các môn đệ Đức Kitô chính là Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu Kitô. Qua lời “Xin vâng” đối với kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa (x. Lc 1,38), nhân danh toàn thể nhân loại, ngài đă chấp nhận Đấng do Chúa Cha gửi tới trong lịch sử, c̣n gọi là Đấng Cứu Chuộc loài người. Trong kinh “Magnificat”, ngài ca tụng mầu nhiệm Cứu Độ đến gần, sự xuất hiện của “Đấng Mêsia của người nghèo” (x. Is 11,4; 61,1). Thiên Chúa của Giao Ước, mà Đức Trinh Nữ người Nazareth ca tụng với tinh thần hân hoan, chính là Đấng lật đổ người quyền thế khỏi ngai vàng và nâng cao kẻ hèn mọn, cho kẻ nghèo đói được no đủ, đuổi người giàu có trở về tay không, đánh tan tác kẻ kiêu ngạo và tỏ ḷng thương xót với những ai kính sợ Ngài (x. Lc 1,50-53).

Khi ngước nh́n tâm hồn Đức Maria, ngước nh́n đức tin sâu thẳm của ngài biểu lộ qua kinh “Magnificat”, các môn đệ Đức Kitô được mời gọi hăy nhớ lại một cách đầy đủ hơn bao giờ hết rằng “không thể tách sự thật về Thiên Chúa cứu độ, Thiên Chúa nguồn mạch mọi ơn huệ với Thiên Chúa luôn tỏ ḷng ưu ái người nghèo nàn và khiêm tốn – t́nh thương này đă được ca tụng trong kinh Magnificat và về sau sẽ được bày tỏ trong lời nói và việc làm của Đức Giêsu”71. Đức Maria hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa và hướng trọn vẹn về Thiên Chúa do chính đức tin của ngài thúc đẩy. Ngài là “h́nh ảnh trọn vẹn nhất của một nhân loại và một vũ trụ được tự do và được giải thoát”72.

CHƯƠNG HAI


SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI

VÀ HỌC THUYẾT XĂ HỘI

I. CÔNG CUỘC PHÚC ÂM HOÁ VÀ HỌC THUYẾT XĂ HỘI

a. Giáo Hội, nơi Thiên Chúa ở với con người

60. Khi chia sẻ với nhân loại những vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng, Giáo Hội đă đứng về phía mỗi con người ở mọi nơi mọi thời, mang tin vui Nước Chúa đến cho họ, Nước ấy đă xuất hiện nơi Đức Giêsu Kitô và vẫn đang tiếp tục hiện diện giữa nhân loại73. Giữa ḷng nhân loại và trong thế giới ấy, Giáo Hội chính là bí tích của t́nh yêu Thiên Chúa, và bởi thế, Giáo Hội là bí tích của niềm hy vọng huy hoàng nhất, khơi gợi và nâng đỡ mọi cố gắng và dấn thân của con người nhằm giải phóng và thăng tiến con người. Giáo Hội hiện diện giữa nhân loại, tựa như túp lều hội ngộ của Thiên Chúa, tựa như “nơi Thiên Chúa ở với con người” (x. Kh 21,3), để con người không cô đơn, lạc lơng hay khiếp sợ trong lúc thi hành nhiệm vụ làm cho thế giới trở nên nhân bản hơn; nhờ đó, con người t́m được sự hỗ trợ nơi t́nh thương cứu chuộc của Đức Kitô. Là thừa tác viên của ơn cứu độ, Giáo Hội không sống trong trừu tượng hay thuần tuư thiêng liêng, mà ở trong chính bối cảnh của lịch sử và thế giới mà con người đang sống74. Chính tại nơi đây, con người gặp được t́nh thương Thiên Chúa và được mời gọi cộng tác vào kế hoạch của Ngài.

61. Dù độc đáo và không thể sao chép trong nét riêng của ḿnh, mỗi người vẫn là một hữu thể mở ra cho mối quan hệ với những người khác trong xă hội. Sống với nhau thành xă hội, sống với nhau trong mạng lưới quan hệ nối kết các cá nhân, gia đ́nh và các tập thể trung gian lại với nhau, bằng cách gặp gỡ, truyền thông và trao đổi, đó chính là cách thế bảo đảm cho con người có một cuộc sống với chất lượng cao hơn. Công ích mà con người t́m kiếm và đạt được khi thành lập các cộng đồng xă hội chính là bảo đảm cho con người t́m được ích lợi cho cá nhân, gia đ́nh và xă hội75. Đây chính là những lư do khiến cho xă hội sinh ra và h́nh thành, cùng với những cơ cấu của ḿnh, tức là cùng với các cơ cấu chính trị, kinh tế, pháp luật và văn hoá của ḿnh. Giáo Hội gửi học thuyết xă hội của ḿnh đến cho con người “đang sống trong một mạng lưới phức tạp với vô số quan hệ trong khuôn khổ các xă hội hiện nay”76. Như một chuyên gia về nhân học77, Giáo Hội thừa sức hiểu con người trong thiên chức và khát vọng, trong những giới hạn và khiếm khuyết, cũng như trong các quyền lợi và nghĩa vụ của con người; Giáo Hội cũng thừa sức công bố lời đầy sức sống, đủ sức vang vọng trong những hoàn cảnh lịch sử và xă hội của cuộc sống con người.

b. Lấy Tin Mừng thâm nhập và làm phong phú xă hội

62. Với giáo huấn xă hội của ḿnh, Giáo Hội t́m cách công bố Tin Mừng và làm cho Tin Mừng hiện diện trong hệ thống phức tạp các mối quan hệ xă hội. Không phải chỉ là làm sao đem Tin Mừng đến được với con người trong xă hội – con người là kẻ tiếp nhận Tin Mừng được công bố – mà c̣n là làm sao cho xă hội được thấm nhuần Tin Mừng và được phong phú lên nhờ Tin Mừng78. Bởi đó, đối với Giáo Hội, chăm lo cho các nhu cầu của con người chính là đưa xă hội vào trong công cuộc truyền giáo và cứu độ của ḿnh. Cách con người sống với nhau trong xă hội thường chi phối chất lượng cuộc sống của họ, nghĩa là chi phối các điều kiện sống, trong đó con người hiểu nhau và đưa ra những quyết định về bản thân họ và về thiên chức của họ. Chính v́ lư do đó, Giáo Hội không thể thờ ơ với những ǵ con người quyết định, thực hiện hay trải nghiệm trong xă hội; Giáo Hội quan tâm tới tính chất luân lư của đời sống xă hội, tức là quan tâm tới những khía cạnh đúng là của con người và làm nhân bản hoá đời sống xă hội của con người.  Xă hội – và cùng với xă hội, chính trị, kinh tế, lao động, luật lệ và văn hoá – không phải chỉ đơn thuần là một cái ǵ trần tục ở thế gian này và v́ thế xa lạ đối với thông điệp cứu độ và nhiệm cục cứu độ. Thật vậy, xă hội, và tất cả những ǵ được thực hiện trong xă hội, luôn có liên quan tới con người. Xă hội được thiết lập bởi những con người, mà con người lại cũng chính là “lộ tŕnh quan trọng nhất và căn bản của Giáo Hội”79.

63. Nhờ học thuyết xă hội của ḿnh, Giáo Hội đảm nhận công việc loan báo những ǵ Chúa trao phó cho ḿnh. Giáo Hội t́m cách làm cho thông điệp về sự tự do và cứu chuộc do Đức Kitô đem lại, tức là Tin Mừng về Nước Trời, được hiện diện trong lịch sử nhân loại. Khi loan báo Tin Mừng, Giáo Hội “làm chứng cho con người nhân danh Đức Kitô, làm chứng cho phẩm giá và thiên chức của con người là hiệp thông với những người khác. Giáo Hội dạy cho con người biết những đ̣i hỏi của công lư và hoà b́nh phù hợp với sự khôn ngoan của Thiên Chúa”80.

Giống như nhờ Giáo Hội mà Tin Mừng vang lên trong cuộc sống hôm nay của con người81, học thuyết xă hội cũng là lời đem lại tự do cho con người. Nói thế có nghĩa là học thuyết xă hội có hiệu quả như chân lư và ân sủng xuất phát từ Thánh Thần Thiên Chúa; Ngài là Đấng thâm nhập các tâm hồn, chuẩn bị các tâm hồn đón nhận các suy nghĩ và ư định yêu thương, công bằng, tự do và hoà b́nh. V́ vậy, Phúc Âm hoá xă hội có nghĩa là đưa vào tâm hồn con người sức mạnh của ư nghĩa và sự tự do t́m thấy trong Tin Mừng, để xây dựng một xă hội phù hợp với con người, v́ phù hợp với Đức Kitô: có nghĩa là xây dựng một đô thị cho con người có tính người hơn bởi v́ nó phù hợp hơn với Nước Chúa.

64. Với học thuyết xă hội của ḿnh, Giáo Hội chẳng những không đi lạc khỏi sứ mạng của ḿnh mà c̣n trung thành sít sao với sứ mạng ấy. Ơn cứu chuộc do Đức Kitô mang lại và được giao cho sứ mạng cứu độ của Giáo Hội chắc hẳn thuộc trật tự siêu nhiên. Xác định chiều hướng này không phải là đặt giới hạn cho ơn cứu độ, nhưng đúng hơn là muốn diễn tả ơn cứu độ một cách toàn diện82. Không được hiểu siêu nhiên như một thực thể hay một địa điểm khởi đi từ nơi mà tự nhiên kết thúc, nhưng phải hiểu siêu nhiên là nâng tự nhiên lên một b́nh diện cao hơn. Nếu thế th́ không có ǵ thuộc về trật tự tạo thành hay nhân loại mà xa lạ hay bị loại khỏi trật tự siêu nhiên hay trật tự thần học của đức tin và ân sủng, trái lại, tất cả đều t́m thấy trong trật tự này, đều được đảm nhận và nâng cao. “Trong Đức Giêsu Kitô, thế giới hữu h́nh do Chúa tạo thành cho con người (x. St 1,26-30) – thế giới ‘đă bị rơi vào t́nh trạng phù phiếm’ kể từ khi có tội xâm nhập vào (Rm 8,20; x. Rm 8,19-22) – đă lấy lại mối liên hệ nguyên thuỷ của ḿnh với nguồn mạch Khôn Ngoan và Yêu Thương là Thiên Chúa. Thật vậy, ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi tặng ban Con Một của ḿnh’ (Ga 3,16). Mối liên hệ này đă bị phá vỡ trong con người Ađam, nay được hàn gắn lại trong con người Đức Kitô (x. Rm 5,12-21)”83.

65. Công cuộc cứu chuộc bắt đầu bằng việc nhập thể, qua đó Con Thiên Chúa mặc lấy tất cả những ǵ là của con người, ngoại trừ tội lỗi, thể theo tinh thần liên đới mà Thiên Chúa Tạo Hoá đă khôn ngoan đặt ra, và đón nhận lấy tất cả mọi sự trong t́nh thương cứu chuộc của ḿnh. Con người được t́nh thương này chạm tới trong trọn vẹn cuộc hiện hữu của nó; một con người vừa có xác lẫn hồn, một con người có mối quan hệ liên đới với người khác. Toàn bộ con người – chứ không phải chỉ riêng linh hồn hay chỉ là một hữu thể khép kín trong cá tính riêng của ḿnh, mà là con người toàn diện và là một xă hội loài người – đă được đưa vào trong nhiệm cục cứu độ của Tin Mừng. Là người cưu mang thông điệp Nhập Thể và Cứu Chuộc của Tin Mừng, Giáo Hội không thể đi con đường nào khác hơn: cùng với học thuyết xă hội và những hành động hữu hiệu xuất phát từ đó, Giáo Hội chẳng những không che giấu dung mạo của ḿnh hay hạ thấp sứ mạng của ḿnh, mà c̣n trung thành với Đức Kitô và t́m cách tỏ cho mọi người thấy Giáo Hội là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ”84. Điều này càng đúng trong những thời đại như hôm nay, một thời đại được đánh dấu bằng sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn và mọi vấn đề xă hội đều mang tính toàn cầu.

c. Học thuyết xă hội, Phúc Âm hoá và việc thăng tiến con người

66. Học thuyết xă hội là một phần cần thiết để cho tác vụ Phúc Âm hoá của Giáo Hội nên trọn vẹn. Không có ǵ liên quan đến cộng đồng nhân loại – những t́nh huống và những vấn đề liên quan đến công lư, tự do, phát triển, quan hệ giữa các dân tộc, hoà b́nh – mà nằm ngoài công cuộc Phúc Âm hoá; việc Phúc Âm hoá sẽ thiếu sót nếu không xét tới các đ̣i hỏi liên tục của Tin Mừng đối với đời sống cá nhân và xă hội cụ thể của con người85. Giữa việc Phúc Âm hoá và việc thăng tiến con người có những mối liên hệ hết sức sâu xa: “Trong đó có mối liên hệ thuộc phạm vi nhân học, v́ con người được Phúc Âm hoá không phải là một hữu thể trừu tượng mà là một hữu thể lệ thuộc các vấn đề kinh tế và xă hội. Trong đó cũng có mối liên hệ thuộc phạm vi thần học, v́ chúng ta không thể tách rời b́nh diện sáng tạo với b́nh diện cứu chuộc. B́nh diện cứu chuộc đụng chạm tới chính những t́nh huống bất công cụ thể cần phải đấu tranh và những t́nh huống công bằng cụ thể cần phải được khôi phục. Trong đó c̣n có mối liên hệ nổi bật thuộc phạm vi Tin Mừng, tức là phạm vi đức ái: làm sao có thể công bố điều răn mới mà không t́m cách thăng tiến con người một cách đích thực trong công lư và hoà b́nh?”86.

67. Học thuyết xă hội của Giáo Hội “tự nó là một công cụ hữu hiệu để Phúc Âm hoá”87, và học thuyết ấy được khai sinh là bởi những cuộc gặp gỡ luôn mới mẻ của thông điệp Tin Mừng với đời sống xă hội. Nếu hiểu như thế th́ học thuyết xă hội chính là một phương cách đặc biệt để Giáo Hội thi hành tác vụ rao giảng Lời Chúa và làm ngôn sứ88. “Thật vậy, giảng dạy và phổ biến học thuyết xă hội là những việc làm có liên quan tới sứ mạng Phúc Âm hoá của Giáo Hội và là một phần thiết yếu trong thông điệp Kitô giáo, v́ học thuyết ấy cho biết những hậu quả cụ thể của thông điệp này trong đời sống xă hội, cũng như đặt những việc làm hằng ngày và những cuộc đấu tranh cho công lư mỗi ngày vào trong bối cảnh làm chứng cho Đức Kitô Cứu Thế”89. Đây không phải là một bận tâm hay một hoạt động bên lề, hoặc chỉ là một bận tâm hay một hoạt động gắn thêm vào sứ mạng của Giáo Hội, mà đúng hơn đó chính là trọng tâm công tác phục vụ của Giáo Hội: với học thuyết xă hội, Giáo Hội “công bố Thiên Chúa và mầu nhiệm cứu độ của Ngài trong Đức Kitô cho hết mọi người, và đó cũng chính là cách để giúp con người biết ḿnh là ai”90. Đây là một tác vụ không chỉ xuất phát từ việc công bố mà c̣n phát xuất từ việc làm chứng. 

68. Giáo Hội không lănh lấy trách nhiệm về hết mọi khía cạnh của cuộc sống trong xă hội mà chỉ lên tiếng trong phạm vi chuyên môn của ḿnh, tức là công bố Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc91: “Đức Kitô không để lại cho Giáo Hội một sứ mạng thuộc phạm vi chính trị, kinh tế hay xă hội; mục tiêu Người trao cho Giáo Hội là mục tiêu tôn giáo. Nhưng sứ mạng tôn giáo này có thể là nguồn đưa tới những dấn thân, đường hướng và sức sống để Giáo Hội t́m cách thiết lập và củng cố cộng đồng nhân loại cho đúng với luật Chúa”92. Nói thế có nghĩa là Giáo Hội không can thiệp vào các vấn đề kỹ thuật qua học thuyết xă hội của ḿnh, cũng không đề xuất hay thiết lập những hệ thống hoặc những mô h́nh tổ chức xă hội93. Đó không phải là sứ mạng Đức Kitô muốn trao cho Giáo Hội. Sở trường chuyên môn của Giáo Hội bắt nguồn từ Tin Mừng: từ thông điệp làm cho con người được tự do, đă từng được Con Thiên Chúa làm người công bố và làm chứng.

d. Các quyền hạn và nghĩa vụ của Giáo Hội

69. Với học thuyết xă hội của ḿnh, Giáo Hội nhằm “giúp con người trên đường cứu độ”94. Đây là mục tiêu quan trọng nhất và duy nhất của Giáo Hội. Giáo Hội không hề có ư định chiếm đoạt hay giành lấy các nghĩa vụ của người khác, cũng không có ư định muốn bỏ bê nghĩa vụ của ḿnh; Giáo Hội cũng chẳng có ư tưởng muốn theo đuổi những mục tiêu xa lạ với sứ mạng của ḿnh. Sứ mạng ấy được dùng để ấn định h́nh thức cho Giáo Hội thi hành quyền hạn và nghĩa vụ của ḿnh khi triển khai học thuyết xă hội riêng của ḿnh và cố gắng làm cho học thuyết ấy tác động đến xă hội và các cơ chế xă hội, thông qua những trách nhiệm và nghĩa vụ mà học thuyết xă hội đó đặt ra.

70. Giáo Hội có quyền làm người thầy cho nhân loại, một người thầy dạy sự thật đức tin: sự thật này không chỉ qua các tín điều mà qua cả luân lư v́ nằm trong chính bản tính của con người và Tin Mừng95. Thật vậy, lời Tin Mừng không phải chỉ để nghe mà c̣n để tuân giữ và thi hành (x. Mt 7,24; Lc 6,46-47; Ga 14,21.23-24; Gc 1,22). Cư xử kiên định là dấu chứng tỏ điều ḿnh tin và điều đó không chỉ giới hạn trong những việc có liên quan chặt chẽ với Giáo Hội hay thuần tuư thiêng liêng, mà c̣n liên hệ đến con người trong toàn bộ kinh nghiệm sống của họ và trong các trọng trách của họ. Nhưng dù các trách nhiệm này có mang tính trần thế đến đâu, người thi hành các trách nhiệm ấy vẫn là con người, nghĩa là một người được Chúa kêu gọi tham gia vào ơn cứu độ, thông qua Giáo Hội.

V́ thế, con người phải đáp lại ơn cứu độ không phải một cách nửa vời, trừu tượng hay chỉ bằng lời nói suông, mà phải đáp lại bằng toàn bộ đời sống của ḿnh – trong tất cả mọi mối quan hệ làm nên đời sống – đến nỗi không bỏ bê điều ǵ, không để điều nào nằm trong lĩnh vực trần thế và phàm tục mà lại không có liên quan hay xa lạ với ơn cứu độ. V́ thế, học thuyết xă hội của Giáo Hội không phải là một đặc ân dành riêng cho Giáo Hội, cũng không phải là một dịp nói lạc đề, một lần nói tuỳ tiện hay một sự can thiệp vào việc người khác: loan báo Tin Mừng trong khuôn khổ xă hội chính là quyền của Giáo Hội, quyền làm cho Lời Chúa có sức giải phóng ấy vang lên trong các thế giới phức tạp của sản xuất, lao động, kinh doanh, tài chính, thương mại, chính trị, luật pháp, văn hoá, truyền thông xă hội, tức là những thế giới con người đang sống.

71. Quyền này cũng đồng thời là nghĩa vụ của Giáo Hội, v́ Giáo Hội không thể bỏ bê trách nhiệm này mà đồng thời không chối bỏ chính ḿnh và bất trung với Đức Kitô: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cr 9,16). Lời cảnh cáo mà thánh Phaolô đưa ra cho ḿnh đang vang lên trong ư thức của Giáo Hội như một lời mời gọi mọi người hăy lên đường truyền giáo, không chỉ trên những nẻo đường dẫn tới các lương tâm cá nhân mà cả trên những nẻo đường đi vào các cơ quan công cộng: v́ một đàng, tôn giáo không chỉ giới hạn “trong lĩnh vực thuần tuư riêng tư”96, mà đàng khác, thông điệp Kitô giáo không thể bị gạt sang một bên, trở thành một sự cứu độ hoàn toàn thuộc về một thế giới khác, không đủ sức chiếu giăi ánh sáng lên cuộc sống trần thế này97.

V́ Tin Mừng và đức tin có liên hệ đến đời sống chung như thế, v́ các hậu quả của bất công hay của tội rất tai hại, nên Giáo Hội không thể giữ thái độ thờ ơ với các vấn đề xă hội:98 “Giáo Hội có quyền rao giảng những nguyên tắc luân lư mọi nơi mọi lúc, bao gồm cả những nguyên tắc có liên quan tới trật tự xă hội, và có quyền đưa ra các lời phê phán về bất cứ việc làm nào của con người chừng nào các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ các linh hồn đ̣i hỏi”99.

II. BẢN CHẤT CỦA HỌC THUYẾT XĂ HỘI CÔNG GIÁO

a. Một sự hiểu biết được soi sáng bởi đức tin 

72. Học thuyết xă hội của Giáo Hội ban đầu không được dự tính là một hệ thống quy củ, nhưng được thành h́nh theo ḍng thời gian, qua nhiều lần can thiệp của Huấn Quyền trước các vấn đề xă hội. Cách thức h́nh thành học thuyết ấy giúp chúng ta hiểu rằng có thể đă có vài thay đổi xảy ra liên quan tới bản chất, phương pháp và cơ cấu nhận thức của học thuyết. Với những lời ám chỉ đáng chú ư được đề cập đến trong Thông điệp Laborem Exercens100, có một chỗ minh định rất rơ về điều này trong Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis: học thuyết xă hội của Giáo Hội “không thuộc về lĩnh vực ư thức hệ, mà thuộc về lĩnh vực thần học, hay nói rơ hơn là thần học luân lư”101. V́ thế, chúng ta không thể định nghĩa học thuyết này theo những thông số của kinh tế và xă hội. Đó không phải là một hệ thống ư thức hệ hay một hệ thống thực dụng nhằm định nghĩa và khai sinh ra các mối quan hệ kinh tế, chính trị và xă hội, mà đó là một phạm trù riêng hoàn toàn. Đó là “một sự tŕnh bày chính xác những thành quả suy tư nghiêm túc về các thực tế phức tạp của đời sống con người, trong xă hội và trong trật tự quốc tế, dựa vào ánh sáng đức tin và truyền thống Giáo Hội. Mục đích chính của sự tŕnh bày này là lư giải các thực tại ấy, xác định xem chúng có phù hợp hay không với đường hướng giáo huấn của Tin Mừng liên quan đến con người và thiên chức của con người, một thiên chức vừa trần thế vừa siêu việt; mục đích là để hướng dẫn người Kitô hữu biết cách cư xử cho đúng”102.

73. Bởi đó, học thuyết xă hội của Giáo Hội mang bản chất thần học, chính xác là thần học luân lư, “v́ đó là học thuyết nhằm hướng dẫn cách cư xử của con người103. “Phải t́m giáo huấn này ở chỗ giao tiếp giữa đời sống và lương tâm Kitô hữu với thế giới thật. Người ta có thể nhận ra học thuyết ấy trong những nỗ lực của cá nhân, gia đ́nh và con người đang tham gia vào đời sống văn hoá và xă hội, cũng như trong những nỗ lực của các nhà chính trị đang t́m cách đem lại cho đời sống văn hoá và xă hội một h́nh thức cụ thể và một sự ứng dụng cụ thể trong lịch sử”104. Thật vậy, học thuyết xă hội này phản ánh ba cấp độ của thần học luân lư: cấp nền tảng là các động cơ; cấp hướng dẫn là các chuẩn mực cho đời sống trong xă hội; cấp quyết định là lương tâm, được mời gọi đưa các chuẩn mực khách quan và tổng quát vào các t́nh huống xă hội đặc thù. Ba cấp độ này cũng ngầm vạch ra phương pháp riêng và cơ cấu nhận thức đặc trưng của Học thuyết Xă hội Công giáo.

74. Học thuyết xă hội của Giáo Hội đặt nền tảng trên mạc khải Thánh Kinh và Truyền thống Giáo Hội. Từ nguồn ấy, xuất phát từ trên cao, Giáo Hội rút ra ánh sáng và cảm hứng để hiểu, để phê phán và để hướng dẫn các kinh nghiệm của con người cũng như lịch sử. Trước tiên và trên hết là kế hoạch của Thiên Chúa đối với thế giới thụ tạo, và cách riêng, đối với đời sống và định mệnh của con người, đă được Chúa mời gọi hiệp thông với Ba Ngôi.

Đức tin tiếp nhận Lời Chúa và đem ra thực hành chính là đức tin đă hoạt động cùng với lư trí một cách rất hữu hiệu. Sự hiểu biết của đức tin, nhất là một đức tin dẫn tới hành động cụ thể, được tổ chức nhờ lư trí và tận dụng tất cả những ǵ lư trí cung cấp. Bao lâu c̣n là sự hiểu biết áp dụng vào hành động với những khía cạnh khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh và lịch sử, học thuyết xă hội cũng làm cho “đức tin và lư trí105 xích lại gần nhau và là bằng chứng hùng hồn về mối tương quan phong phú giữa đức tin và lư trí ấy.

75. Đức tin và lư trí diễn tả hai con đường nhận thức khác nhau của Học thuyết Xă hội Công giáo: đó là mạc khải và bản tính con người. Sự “hiểu biết” của đức tin là sự hiểu biết thấu đáo hướng dẫn cuộc sống con người theo ánh sáng của mầu nhiệm cứu độ trong lịch sử, theo mạc khải của Thiên Chúa và theo việc Thiên Chúa hiến ḿnh cho chúng ta trong Đức Kitô. Trong sự hiểu biết này đă có sự can thiệp của lư trí, nhờ đó đức tin lĩnh hội được càng lúc càng sâu xa các chân lư mạc khải và đưa chúng hoà nhập với sự thật của bản tính con người, mà chúng ta có thể t́m thấy trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, phản ánh nơi thụ tạo106. Đây chính là sự thật toàn diện về con người, như là hữu thể vừa thiêng liêng vừa xác thịt, có liên hệ với Thiên Chúa, với những người khác và với các thụ tạo khác107.

Ngoài ra, tập trung vào mầu nhiệm Đức Kitô như thế sẽ không làm suy yếu hay loại bỏ vai tṛ của lư trí, và từ đó không làm cho học thuyết xă hội của Giáo Hội mất đi lư tính hay mất đi khả năng ứng dụng phổ quát. V́ mầu nhiệm Đức Kitô soi sáng cho chúng ta hiểu mầu nhiệm con người, nên mầu nhiệm Đức Kitô cũng mang lại ư nghĩa trọn vẹn cho phẩm giá con người và các đ̣i hỏi đạo đức học nhằm bảo vệ phẩm giá ấy. Học thuyết xă hội của Giáo Hội chính là sự hiểu biết được soi sáng bởi đức tin, cho thấy khả năng hiểu biết rộng lớn hơn của con người. Học thuyết xă hội giải thích cho mọi người biết những chân lư mà nó khẳng định và những nghĩa vụ mà nó đ̣i hỏi; học thuyết đó có thể được mọi người đón nhận và chia sẻ.

b. Trong sự đối thoại thân t́nh với mọi ngành kiến thức

76. Học thuyết xă hội của Giáo Hội sẽ tận dụng các đóng góp của mọi ngành kiến thức, bất kể chúng xuất phát từ nguồn gốc nào, và học thuyết này mang chiều hướng liên ngành rất quan trọng. “Để đưa chân lư duy nhất về con người hội nhập tốt hơn vào các bối cảnh xă hội, kinh tế và chính trị luôn thay đổi, học thuyết xă hội của Giáo Hội t́m cách đối thoại với các bộ môn khác nhau có liên quan đến con người. Học thuyết này tiếp thu những ǵ các bộ môn ấy đóng góp”108. Học thuyết xă hội tận dụng những đóng góp quan trọng của triết học cũng như những đóng góp mang tính mô tả của các khoa học nhân văn.

77. Trên hết, phải kể đến sự đóng góp rất thiết yếu của triết học. Sự đóng góp này được thể hiện qua việc học thuyết xă hội của Giáo Hội thường hay lấy bản tính con người làm nguồn gốc và dùng lư trí làm con đường nhận thức của chính đức tin. Nhờ lư trí, học thuyết xă hội của Giáo Hội đă kết hợp với triết học theo logic riêng của ḿnh, hay nói cách khác, kết hợp bằng những lập luận đặc thù của học thuyết xă hội.

Khẳng định rằng học thuyết xă hội của Giáo Hội là một bộ phận của thần học hơn là triết học không có nghĩa là chối bỏ hay đánh giá thấp vai tṛ hay sự đóng góp của triết học. Thật vậy, triết học là một công cụ phù hợp và cần thiết để hiểu biết đúng đắn các khái niệm căn bản của Học thuyết Xă hội Công giáo, những khái niệm như ngôi vị, xă hội, tự do, lương tâm, đạo đức, luật pháp, công bằng, công ích, liên đới, bổ trợ, Nhà Nước. Sự hiểu biết ấy là nguồn cảm hứng để sống hài hoà trong xă hội. Cũng nhờ triết học mà một lần nữa chúng ta lại thấy việc lấy ánh sáng Tin Mừng soi sáng xă hội là một việc làm hợp lư và có thể chấp nhận được; cũng nhờ triết học mà mọi tinh thần và lương tâm đều được cởi mở và ưng thuận chân lư.

78. Một sự đóng góp rất ư nghĩa cho Học thuyết Xă hội Công giáo là từ các khoa học xă hội và nhân văn109. V́ mỗi ngành khoa học đều có thể giúp đạt đến một phần riêng biệt của chân lư, cho nên không một ngành kiến thức nào lại bị loại trừ. Giáo Hội nh́n nhận và tiếp thu mọi sự có thể góp phần giúp hiểu biết con người trong mạng lưới các quan hệ xă hội ngày càng rộng lớn, luôn biến chuyển và phức tạp hơn. Giáo Hội ư thức rơ muốn hiểu biết con người sâu xa không thể chỉ dựa vào thần học mà bỏ quên những đóng góp của nhiều ngành kiến thức khác, mà chính thần học phải tham khảo.

Nhờ biết cởi mở với các ngành kiến thức khác một cách chăm chú và bền bỉ mà Học thuyết Xă hội Công giáo mới càng thêm đáng tin, cụ thể và thích đáng. Nhờ các ngành khoa học này, Giáo Hội có thể hiểu chính xác hơn con người trong xă hội, có thể ngỏ lời với con người hiện nay một cách thuyết phục hơn và thực hiện có kết quả hơn nhiệm vụ của ḿnh là đưa Lời Chúa và đức tin, nơi xuất phát học thuyết xă hội, hội nhập vào trong lương tâm và trách nhiệm xă hội của thời đại chúng ta110.

Cuộc đối thoại liên ngành học thuật cũng thách thức các khoa học phải nắm vững các nhăn giới của ư nghĩa, giá trị và sự dấn thân theo như Học thuyết Xă hội Công giáo bày tỏ, cũng như đ̣i hỏi chính các ngành khoa học phải “mở ra cho một chân trời rộng lớn hơn, nhằm phục vụ từng con người riêng tư, là thành phần được nh́n nhận và yêu mến trong thiên chức đầy đủ của người ấy”111.

c. Là một cách biểu hiện tác vụ giảng dạy của Giáo Hội

79. Học thuyết xă hội thuộc về Giáo Hội v́ Giáo Hội là chủ thể thiết lập, phổ biến và giảng dạy học thuyết ấy. Đó không phải là đặc quyền của riêng một bộ phận nào trong Giáo Hội mà là của toàn thể cộng đồng; nó là cách biểu hiện đường lối Giáo Hội hiểu xă hội và cho biết lập trường của Giáo Hội liên quan đến các cơ chế xă hội và những thay đổi trong xă hội. Toàn thể cộng đồng Giáo Hội – từ linh mục, tu sĩ đến giáo dân – đều tham dự vào việc h́nh thành giáo huấn ấy, mỗi người tuỳ theo nhiệm vụ, đoàn sủng và thừa tác vụ của ḿnh trong Giáo Hội.

Những đóng góp vừa nhiều vừa đa dạng này – tự bản thân là những biểu hiện “sự đánh giá của đức tin cách siêu nhiên ‘cảm thức đức tin’ của toàn dân”112 – được Huấn Quyền tiếp thu, giải thích và làm thành một tổng thể thống nhất, khi công bố học thuyết xă hội ấy là học thuyết của chính Giáo Hội. Tất cả những người nào đă lănh nhận “nhiệm vụ giảng dạy” (munus docendi) hay thừa tác vụ giáo huấn trong lĩnh vực đức tin và luân lư với thẩm quyền đă nhận được từ Đức Kitô đều được kể vào Huấn Quyền Giáo Hội. Học thuyết xă hội của Giáo Hội không chỉ là sự suy tư hay công tŕnh của những người có tŕnh độ, mà là tư duy của Giáo Hội bao lâu c̣n là công tŕnh của Huấn Quyền, tức là cơ quan giảng dạy với thẩm quyền do Đức Kitô trao cho các Tông đồ và các đấng kế vị, tức là Đức Giáo hoàng và các Giám mục hiệp thông với ngài113.

80. Trong học thuyết xă hội của Giáo Hội có Huấn Quyền làm việc cùng với tất cả những thành viên làm nên Huấn Quyền dưới những h́nh thức khác nhau. Quan trọng hơn hết là Huấn Quyền phổ quát của vị Giáo hoàng và Công đồng: đây là Huấn Quyền xác định đường hướng và đánh dấu sự tiến triển của học thuyết xă hội. Đến lượt ḿnh, học thuyết ấy lại được hoà hợp vào trong Huấn Quyền của các Giám mục; các ngài sẽ làm cho giáo huấn ấy có được nội dung chính xác, thông dịch và áp dụng học thuyết ấy trong những t́nh h́nh cụ thể và đặc thù của các địa phương khác nhau114. Giáo huấn xă hội của các Giám mục là những đóng góp và lực đẩy hữu hiệu cho Huấn Quyền của Đức Giáo hoàng Roma. Bằng cách đó, có một sự xoay ṿng cho thấy tính tập đoàn của các chủ chăn Giáo Hội liên kết với Đức Giáo hoàng trong giáo huấn xă hội chung của cả Giáo Hội. Cũng bằng cách đó, toàn bộ giáo lư được đưa ra sẽ bao gồm và hoà hợp giáo huấn phổ quát của Đức Giáo hoàng và giáo huấn riêng của các Giám mục.

Bao lâu c̣n là một phần trong giáo huấn luân lư của Giáo Hội, bấy lâu học thuyết xă hội của Giáo Hội sẽ có cùng phẩm giá và thẩm quyền như giáo huấn luân lư của Giáo Hội. Đây đúng là Huấn Quyền đích thực, buộc các tín hữu phải gắn bó115. Các giáo huấn khác nhau có trọng lượng giáo lư thế nào và đ̣i buộc các tín hữu ưng thuận ra sao là tuỳ vào bản chất của từng giáo huấn, tuỳ vào mức độ bền vững – không bị thay đổi dễ dàng – và tuỳ vào giáo huấn ấy được viện dẫn thường xuyên tới mức nào116.

d. Dành cho một xă hội đă được hoà giải trong công lư và t́nh yêu

81. Đối tượng của Học thuyết Xă hội Công giáo về cơ bản vẫn là cái làm nên lư do hiện hữu của Giáo Hội: đó là con người được mời gọi hưởng ơn cứu độ, và con người ấy được Đức Kitô trao cho Giáo Hội chăm sóc và chịu trách nhiệm117. Thông qua học thuyết xă hội, Giáo Hội tỏ rơ sự quan tâm của ḿnh đối với đời sống con người trong xă hội, đồng thời ư thức rằng chất lượng của đời sống xă hội ấy – nghĩa là chất lượng của những mối quan hệ công bằng và yêu thương, dệt thành xă hội – tuỳ thuộc một cách quyết định vào việc con người được bảo vệ và thăng tiến thế nào, v́ cộng đồng ra đời là từ những con người ấy. Thật vậy, phẩm giá và quyền lợi của con người đang bị đưa ra đánh cược trong xă hội, và hoà b́nh trong các quan hệ giữa người với người và giữa các cộng đồng với nhau cũng đang lâm vào t́nh cảnh này. Đó chính là những điều thiện hảo mà cộng đồng xă hội phải theo đuổi và bảo đảm. Nh́n trong viễn tượng này, học thuyết xă hội của Giáo Hội không chỉ có nhiệm vụ công bố, mà c̣n có nhiệm vụ tố cáo.

Trước tiên, học thuyết này chính là sự công bố những điều Giáo Hội đang có như của riêng ḿnh: đó là một “cái nh́n về con người và về các việc làm của con người trong toàn bộ vấn đề”118. Giáo Hội làm việc này không chỉ trên b́nh diện các nguyên tắc mà cả trong thực hành cụ thể. Thật vậy, học thuyết xă hội của Giáo Hội không chỉ cung cấp cho chúng ta ư nghĩa, giá trị và các tiêu chuẩn để phê phán, mà cả những chuẩn mực và chỉ dẫn để hành động, rút ra từ những nguyên tắc đó119. Với học thuyết xă hội của ḿnh, Giáo Hội không hề muốn t́m cách cơ cấu hoá hay tổ chức xă hội, mà chỉ kêu gọi, hướng dẫn và đào tạo các lương tâm.

Học thuyết xă hội này cũng bao gồm cả nghĩa vụ phải tố cáo mỗi khi tội có mặt: tội bất công và tội bạo lực, cách này hay cách khác, đang lan tràn qua xă hội và thâm nhập vào xă hội120. Nhờ biết tố cáo, học thuyết xă hội trở nên giống các thẩm phán và các nhà bảo vệ những quyền lợi không được nh́n nhận và hay bị xâm phạm, nhất là các quyền lợi của người nghèo, người yếu kém121. Các quyền này càng bị làm ngơ hay bị xâm phạm, th́ tầm mức bạo lực và bất công càng lan rộng, ảnh hưởng đến cả một loạt người hay những khu vực đia lư rộng lớn, từ đó làm gia tăng các vấn đề xă hội, tức là đưa tới những lạm dụng và mất quân b́nh, khiến cho xă hội bị xáo trộn. Một phần lớn giáo huấn xă hội của Giáo Hội được yêu cầu và được quyết định bởi các vấn đề quan trọng của xă hội, và công bằng xă hội chính là giải đáp thích hợp cho các vấn đề ấy.

82. Ư hướng của Học thuyết Xă hội Công giáo là ư hướng thuộc trật tự tôn giáo và luân lư122. Thuộc trật tự tôn giáo v́ sứ mạng Phúc Âm hoá và cứu độ của Giáo Hội bao trùm lên con người “trong toàn bộ sự thật về sự hiện hữu của con người, về hữu thể cá nhân và cả hữu thể xă hội hay cộng đồng của con người”123. Thuộc trật tự luân lư v́ Giáo Hội nhắm xây dựng “một h́nh thức hoàn bị của chủ nghĩa nhân bản”124, tức là t́m cách “giải thoát con người khỏi mọi áp bức”125 và nhằm “phát triển toàn diện con người và tất cả mọi người”126. Học thuyết xă hội của Giáo Hội chỉ ra cho chúng ta thấy con đường để một xă hội đă được hoà giải đi theo và sống hài hoà nhờ công bằng và yêu thương, một xă hội đang tham dự vào lịch sử nhưng lại chuẩn bị và tiên báo một “trời mới đất mới, nơi công lư ngự trị” (2 Pr 3,13).

e. Một thông điệp gửi cho con cái Giáo Hội và gửi cho nhân loại

83. Chủ thể đầu tiên tiếp nhận học thuyết xă hội của Giáo Hội chính là cộng đồng Giáo Hội với tất cả mọi thành viên, v́ ai ai cũng có những trách nhiệm xă hội cần phải chu toàn. Thông qua học thuyết xă hội này, lương tâm mọi người được kêu gọi hăy nh́n nhận và chu toàn các bổn phận công bằng và bác ái trong xă hội. Học thuyết này chính là ánh sáng của luân lư đích thực soi sáng cho mọi người t́m ra những sự đáp trả thích hợp tuỳ theo thiên chức và tác vụ của mỗi Kitô hữu. Trong khi thi hành công cuộc Phúc Âm hoá, tức là giảng dạy, huấn giáo và đào tạo mà giáo huấn này gợi ư, mỗi Kitô hữu sẽ tiếp nhận Học thuyết Xă hội Công giáo tuỳ theo thẩm quyền chuyên môn, đoàn sủng, chức vụ và sứ mạng công bố của ḿnh127.

Học thuyết xă hội này cũng hàm chứa những trách nhiệm liên quan đến việc xây dựng, tổ chức và vận hành xă hội, tức là những bổn phận chính trị, kinh tế và hành chính – những bổn phận mang bản chất trần thế – vốn thuộc về người tín hữu giáo dân chứ không thuộc về các linh mục hay tu sĩ128. Những bổn phận ấy thuộc về hàng giáo dân một cách hết sức đặc biệt v́ thân phận trần thế của bậc sống và v́ bản chất trần thế của thiên chức mà họ đang theo đuổi129. Khi thi hành các trách nhiệm ấy, người tín hữu giáo dân đă đưa giáo huấn xă hội của Giáo Hội vào thực hành, và như thế, giúp hoàn thành sứ mạng trần thế của Giáo Hội130.

84. Học thuyết xă hội Công giáo không chỉ được gưi trước hết và đặc biệt tới con cái Giáo Hội mà nó c̣n có mục tiêu phổ quát. Ánh sáng của Tin Mừng mà học thuyết xă hội của Giáo Hội soi chiếu trên xă hội sẽ soi sáng cho hết mọi người; mỗi lương tâm và trí óc con người được ở trong tư thế thuận lợi để nắm bắt được chiều sâu của ư nghĩa và các giá trị của con người diễn tả trong học thuyết ấy, cũng như sẽ khám phá tiềm năng nhân loại và khả năng nhân bản hoá chứa đựng trong các chuẩn mực hành động của học thuyết ấy. Học thuyết xă hội của Giáo Hội được gửi tới mọi dân tộc – nhân danh nhân loại, và phẩm giá con người, vừa duy nhất vừa độc đáo, nhân danh sự chăm sóc loài người và việc thăng tiến xă hội – và được gửi tới cho từng người nhân danh Thiên Chúa duy nhất, vừa là Đấng Tạo Hoá vừa là cứu cánh của con người131. Học thuyết xă hội này đúng là một giáo huấn công khai gửi cho mọi người thiện chí132, và thật vậy, nó đă được tiếp nhận không phải chỉ bởi thành viên các giáo hội và cộng đồng giáo hội khác, mà c̣n bởi các tín đồ của các truyền thống tôn giáo khác và cả bởi những người không thuộc về tập thể tôn giáo nào.

f. Vừa liên tục vừa đổi mới

85. Học thuyết Xă hội Công giáo luôn được ánh sáng ngàn đời của Tin Mừng hướng dẫn và luôn quan tâm tới sự tiến hoá của xă hội, nên nó có đặc điểm là vừa liên tục vừa đổi mới133.

Trước hết, học thuyết ấy chứng tỏ có một sự liên tục khi nó luôn tham khảo các giá trị phổ quát rút ra từ mạc khải và bản tính con người. Chính v́ lư do này mà Học thuyết Xă hội Công giáo không lệ thuộc các nền văn hoá, các ư thức hệ hay các chính kiến khác nhau; đó là một giáo huấn bền vững “trước sau như một xét theo cảm hứng căn bản, xét theo ‘các nguyên tắc suy tư’, ‘các tiêu chuẩn phê phán’, ‘các chỉ dẫn cơ bản để hành động’, và trên hết, xét theo mối liên hệ hết sức quan trọng của học thuyết ấy với Tin Mừng của Chúa”134. Đây chính là phần cốt lơi nền tảng và cố định của Học thuyết Xă hội Công giáo, nhờ đó, học thuyết ấy có thể trải qua lịch sử mà vẫn không bị lịch sử chi phối hay có nguy cơ phai nhạt dần.

Đàng khác, khi thường xuyên hướng tới lịch sử và tham gia vào các biến cố đă xảy ra trong lịch sử như thế, Học thuyết Xă hội Công giáo chứng tỏ ḿnh có khả năng đổi mới liên tục. Vững vàng trong các nguyên tắc không có nghĩa là phải trở thành một hệ thống giáo huấn cứng nhắc, mà là một Huấn Quyền có thể cởi mở với các điều mới, nhưng vẫn không v́ thế mà thay đổi bản chất135. Đó là một giáo huấn “được thích nghi một cách hết sức cần thiết và đúng lúc dựa trên những thay đổi trong những hoàn cảnh lịch sử và dựa trên chuỗi sự kiện diễn ra không bao giờ ngừng, làm thành khung cảnh sống của con người và xă hội”136.

86. Học thuyết xă hội của Giáo Hội được giới thiệu như một “địa chỉ làm việc”, tại đó công việc vẫn đang tiến hành, chân lư ngàn đời vẫn đang thâm nhập và lan toả vào các hoàn cảnh mới, chỉ ra những con đường dẫn tới công lư và hoà b́nh. Đức tin không có ư định giam hăm các thực tại chính trị và xă hội luôn thay đổi trong một khuôn khổ đóng kín137. Trái lại, đức tin là chất men tạo ra sự đổi mới và sáng tạo. Giáo huấn này luôn lấy đó làm điểm xuất phát, rồi “triển khai thêm thông qua suy nghĩ được áp dụng vào các t́nh thế luôn thay đổi của thế giới, dưới lực đẩy của Tin Mừng là nguồn của sự đổi mới”138.

Là Mẹ và là Thầy, Giáo Hội không tự đóng kín vào ḿnh cũng không trốn tránh, mà luôn luôn cởi mở, vươn ra ngoài và hướng tới con người, v́ định mệnh cứu độ của con người cũng chính là lư do tồn tại của Giáo Hội. Giáo Hội ở giữa con người như một bức tranh sống động của Người Mục Tử Tốt Lành, đang t́m kiếm con người và gặp được con người tại nơi con người ở, tức là trong hoàn cảnh hiện sinh và lịch sử của chính cuộc sống con người. Chính tại chỗ đó mà Giáo Hội trở thành điểm cho con người tiếp xúc được Tin Mừng, tiếp xúc được thông điệp giải phóng và hoà giải, công lư và hoà b́nh.

III. HỌC THUYẾT XĂ HỘI CỦA GIÁO HỘI TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA: CÁC GHI CHÚ LỊCH SỬ

a. Khởi đầu một lộ tŕnh mới

87. Thuật ngữ “học thuyết xă hội” đến từ Đức Giáo hoàng Piô XI139 và chỉ “tập hợp” giáo lư liên quan đến các vấn đề xă hội; giáo huấn này khởi sự với Thông điệp Rerum Novarum (Các sự việc mới)140 của Đức Giáo hoàng Lêô XIII, được triển khai trong Giáo Hội thông qua Huấn Quyền của các Đức Giáo hoàng và các Giám mục hiệp thông với các ngài141. Chắc hẳn Giáo Hội quan tâm tới các vấn đề xă hội không phải chỉ với văn kiện ấy, v́ Giáo Hội không ngừng quan tâm tới xă hội. Nhưng Thông điệp Rerum Novarum đă đánh dấu sự khởi đầu của một lộ tŕnh mới. Dù gắn kết với một truyền thống hàng mấy trăm năm, Thông điệp ấy vẫn báo hiệu một sự khởi đầu mới và một sự triển khai đặc biệt giáo huấn Giáo Hội trong lĩnh vực xă hội142.

Trong lúc không ngừng quan tâm tới con người sống trong xă hội, Giáo Hội đă tích luỹ được cả một kho tàng giáo lư phong phú. Kho tàng này có gốc rễ trong Thánh Kinh, nhất là trong các sách Tin Mừng và các bút tích của các Tông đồ, được thành h́nh và hoàn chỉnh bắt đầu từ các Giáo phụ và các vị Tiến sĩ thời Trung Cổ, rồi làm thành một học thuyết, mà dù trong đó không có những lời tuyên bố minh bạch và trực tiếp của Huấn Quyền, Giáo Hội vẫn dần dần nhận ra thẩm quyền chuyên môn của ḿnh.

88. Vào thế kỷ XIX, các biến cố mang bản chất kinh tế đă tạo ra một tác động bi đát trên xă hội, chính trị và văn hoá. Các biến cố có liên quan với cuộc Cách mạng Công nghiệp đă làm thay đổi sâu xa những cơ cấu xă hội có từ hàng mấy thế kỷ, đặt ra những vấn đề công bằng rất nghiêm trọng, trong đó vấn đề xă hội đầu tiên có tầm cỡ là vấn đề lao động, được cấp tốc nêu lên do cuộc xung đột giữa phe tư bản và giới lao động. Trong bối cảnh ấy, Giáo Hội cảm thấy cần phải can thiệp theo một cách thức mới: những “sự việc mới” (res novae) do các biến cố ấy mang đến giống như một thách đố cho giáo huấn của Giáo Hội, bắt Giáo Hội phải có sự quan tâm mục vụ đặc biệt tới đông đảo quần chúng. Cần phải có một sự phân định mới về t́nh h́nh, một sự phân định có thể t́m ra những giải pháp thích hợp cho các vấn đề lạ lẫm, chưa một lần khám phá.

b. Từ Thông điệp Rerum Novarum đến hôm nay

89. Để trả lời cho vấn nạn xă hội nghiêm trọng đầu tiên, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đă ban hành Thông điệp xă hội đầu tiên là “Rerum Novarum143. Thông điệp này xem xét t́nh trạng của các người lao động ăn lương, một t́nh trạng hết sức đáng buồn đối với các người lao động trong ngành công nghiệp đang vất vả trong cảnh cùng khốn phi nhân. Thông điệp đă đề cập đến vấn đề lao động về các khía cạnh khác nhau. Vấn đề này đă được khảo sát qua tất cả các biểu hiện của nó trên b́nh diện chính trị và xă hội, nhờ đó ta có thể đưa ra sự đánh giá đúng đắn dựa vào các nguyên tắc giáo lư, căn cứ trên mạc khải, luật tự nhiên và luân lư.

Thông điệp Rerum Novarum liệt kê các sai lầm, mà từ đó phát sinh biết bao tệ nạn xă hội; Thông điệp không thừa nhận chủ nghĩa cực quyền, phủ định quyền tư hữu và ngôi vị cá thể của con người, không lấy đó làm phương dược điều trị, rồi tŕnh bày một cách chính xác và theo ngôn ngữ đương thời “học thuyết Công giáo về lao động, về quyền tư hữu, về nguyên tắc hợp tác thay v́ lấy việc đấu tranh bạo động làm phương thế căn bản để thay đổi xă hội, về quyền lợi của những người yếu kém, về phẩm giá của người nghèo và nghĩa vụ của người giàu, về việc đức ái kiện toàn công lư, quyền thành lập các hiệp hội ngành nghề”144.

Thông điệp trở thành văn kiện thôi thúc các Kitô hữu hoạt động trong lĩnh vực xă hội và trở thành điểm tham chiếu cho các Kitô hữu khi hoạt động145. Chủ đề chính của Thông điệp là làm sao sắp xếp trật tự đúng đắn cho xă hội, và muốn thế cần phải xác định các tiêu chuẩn phê phán để giúp đánh giá các hệ thống chính trị - xă hội hiện hành và để đề ra các hướng hành động hầu biến đổi các hệ thống ấy cách thích đáng.

90. Thông điệp đề cập tới vấn đề lao động bằng cách sử dụng một phương pháp luận, mà về sau sẽ trở thành một “định thức vững bền146 để sau này triển khai thành học thuyết xă hội của Giáo Hội. Những nguyên tắc do Đức Giáo hoàng Lêô XIII đưa ra sẽ được lấy lại và nghiên cứu sâu xa hơn trong các thông điệp xă hội tiếp theo sau này. Có thể coi toàn bộ học thuyết xă hội của Giáo Hội như một hành động cập nhật hoá, một sự phân tích sâu sắc hơn và như môt sự triển khai rộng răi hơn phần cốt lơi ban đầu là các nguyên tắc đă được tŕnh bày trong Rerum Novarum. Nhờ bản văn dũng cảm và có tầm nh́n xa trông rộng, Đức Giáo hoàng Lêô XIII “đă đem lại cho Giáo Hội ‘địa vị công dân’ đích thực, giữa muôn vàn thực tế thay đổi của đời sống chung”147, cũng như đă “đưa vào được và đă ra một bản tuyên bố sắc sảo”148 mà sau này sẽ trở thành “một yếu tố thường xuyên trong giáo huấn xă hội của Giáo Hội”149. Đức Giáo hoàng c̣n khẳng định “chỉ có thể giải quyết các vấn đề xă hội nghiêm trọng bằng sự hợp tác giữa tất cả các thế lực”150; ngài c̣n nói thêm rằng “về phần Giáo Hội, sự hợp tác ấy sẽ không bao giờ thiếu”151.

91. Vào đầu thập niên 1930, tiếp theo sau cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng vào năm 1929, Đức Giáo hoàng Piô XI ban hành Thông điệp Quadragesimo Anno (Năm thứ 40)152, kỷ niệm năm thứ 40 Thông điệp Rerum Novarum. Ngài đọc lại quá khứ dựa vào t́nh h́nh kinh tế và xă hội lúc bấy giờ, trong đó, bên cạnh những hậu quả của việc công nghiệp hoá c̣n có sự kiện các tập thể tài chính đang mở rộng ảnh hưởng, cả trên b́nh diện quốc gia lẫn quốc tế. Đó c̣n là thời kỳ hậu chiến, trong đó các chính thể độc tài đang ra sức khống chế châu Âu dù cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng trở nên quyết liệt. Thông điệp cảnh cáo mọi người về t́nh trạng thiếu tôn trọng tự do trong việc thành lập các hiệp hội và nhấn mạnh tới nguyên tắc liên đới và hợp tác để khắc phục các mâu thuẫn xă hội. Các quan hệ giữa giới tư bản và giới lao động phải có tính cách hợp tác153.

Thông điệp Quadragesimo Anno tái xác nhận nguyên tắc lương bổng phải cân xứng không chỉ với các nhu cầu của người lao động mà c̣n với các nhu cầu của gia đ́nh người lao động. Trong các mối quan hệ với khu vực tư nhân, Nhà Nước cần phải áp dụng nguyên tắc bổ trợ, một nguyên tắc sẽ trở thành nhân tố thường xuyên có mặt trong giáo huấn xă hội Công giáo. Thông điệp bác bỏ chủ nghĩa tự do, được quan niệm như một chủ nghĩa chủ trương cạnh tranh vô giới hạn giữa các lực lượng kinh tế, và tái khẳng định giá trị của tư hữu, nhưng không quên vai tṛ xă hội của tư hữu. Trong một xă hội đang cần được tái thiết từ các nền tảng kinh tế, một xă hội tự nó đă hoàn toàn trở thành “vấn đề” cần phải giải quyết, “Đức Piô XI cảm thấy ḿnh có nghĩa vụ và trách nhiệm phải đẩy mạnh cho người ta ư thức hơn, giải thích chính xác hơn và khẩn trương áp dụng luật luân lư liên quan tới các quan hệ nhân bản… nhằm khắc phục sự xung đột giữa các giai cấp và tiến tới một trật tự xă hội mới dựa trên công bằng và bác ái”154

92. Đức Giáo hoàng Piô XI không quên lên tiếng phản đối những chế độ độc tài đang t́m cách thống trị châu Âu dưới triều đại giáo hoàng của ngài. Ngay từ ngày 29-6-1931, ngài đă phản đối sự lạm quyền của chế độ độc tài phátxít ở Italia qua Thông điệp Non Abbiamo Bisogno155. Ngài c̣n ban hành Thông điệp Mit Brennender Sorge đề cập đến t́nh h́nh Giáo hội Công giáo dưới thời Đức Quốc Xă, ngày 14-3-1937156. Văn kiện này đă được đọc trên giảng đài các nhà thờ Công giáo Đức, sau một thời gian được phân phát hết sức kín đáo. Thông điệp ra đời sau những năm chính phủ lạm quyền và bạo lực. Thông điệp này đă được chính các giám mục Đức yêu cầu Đức Giáo hoàng Piô XI ban hành, sau khi Đức Quốc Xă thi hành những biện pháp mang tính áp bức và cưỡng ép nhiều hơn nữa vào năm 1936, nhất là đối với thanh niên, bắt buộc họ tham gia làm hội viên Phong trào Thanh niên Hitler. Đức Giáo hoàng đă ngỏ lời trực tiếp với các linh mục, tu sĩ và giáo dân, động viên và kêu gọi họ phản kháng cho tới khi hoà b́nh thực sự giữa Giáo Hội và Nhà Nước được văn hồi. Năm 1938, trước sự lan tràn của chủ nghĩa bài Do Thái (anti-Semitism), Đức Giáo hoàng Piô XI đă khẳng định: “Về mặt tinh thần, tất cả chúng ta đều là người sêmít”157.

Với Thông điệp Divini Redemptoris (Đấng Cứu Chuộc Thần linh)158, đề cập đến chủ nghĩa cộng sản vô thần và học thuyết xă hội Kitô giáo, Đức Giáo hoàng Piô XI đă tŕnh bày một bài phê b́nh rất hệ thống về chủ nghĩa cộng sản, mô tả chủ nghĩa ấy “tự bản chất khác biệt với Giáo Hội về thế giới quan”159, và chỉ ra rằng phương thế chính yếu để sửa sai các hạn chế mà chủ nghĩa ấy đă đưa vào xă hội chính là canh tân đời sống Kitô hữu, thực hành bác ái theo Tin Mừng, chu toàn các nghĩa vụ công bằng cả trên b́nh diện tương quan con người lẫn xă hội nhằm mưu cầu công ích, và thể chế hoá các tập thể chuyên nghiệp và liên hiệp các ngành nghề.

93. Trong các Thông điệp Truyền thanh nhân dịp lễ Giáng Sinh của Đức Giáo hoàng Piô XII160, cùng với các sự can thiệp quan trọng khác của ngài trong các vấn đề xă hội, suy tư của Huấn Quyền Giáo Hội về một trật tự xă hội mới được hướng dẫn bởi luân lư và luật pháp, tập trung vào công lư và hoà b́nh, trở nên sâu sắc hơn. Triều đại giáo hoàng của Đức Piô XII trùng vào những năm kinh khủng của Thế chiến Thứ Hai và những năm tái thiết khó khăn. Ngài không công bố một thông điệp xă hội nào, nhưng trong nhiều t́nh huống khác nhau, ngài luôn tỏ ra quan tâm tới trật tự quốc tế đă bị lung lay tận gốc. “Trong thời kỳ chiến tranh và hậu chiến, nhiều người trên các châu lục và hàng triệu tín đồ tôn giáo hay không tôn giáo đă coi giáo huấn xă hội của Đức Piô XII như tiếng nói của lương tâm thế giới… Với thẩm quyền và uy tín tinh thần, Đức Giáo hoàng Piô XII đă mang ánh sáng của sự khôn ngoan Kitô giáo đến cho biết bao người thuộc đủ mọi hạng và tầng lớp xă hội”161.

Một trong những đặc điểm về các sự can thiệp của Đức Piô XII là tầm quan trọng ngài gán cho tương quan giữa luân lư và luật pháp. Ngài nhấn mạnh vào khái niệm luật tự nhiên, coi đó là linh hồn của một hệ thống xă hội cần thiết lập cả trên b́nh diện quốc gia lẫn quốc tế. Một khía cạnh quan trọng khác trong giáo huấn của Đức Piô XII là ngài chú ư tới các giới chuyên môn và kinh doanh, mời gọi họ hăy cộng tác với nhau cách đặc biệt để phục vụ ích chung. “Nhờ sự nhạy bén và thông minh trong việc nắm bắt các ‘dấu chỉ thời đại’, Đức Piô XII có thể được coi là người tiên phong trực tiếp của Công đồng Vatican II và của giáo huấn xă hội do các giáo hoàng kế vị ngài đưa ra”162.

94. Thập niên 1960 mang lại khá nhiều triển vọng hứa hẹn: sự khôi phục sau cuộc tàn phá của chiến tranh, khởi sự tiến tŕnh xoá bỏ thuộc địa, và những dấu hiệu đầu tiên, tuy c̣n dè dặt, của sự bớt lạnh nhạt trong mối quan hệ giữa hai khối Hoa Kỳ và Xô Viết. Đây chính là bối cảnh trong đó Chân phúc Giáo hoàng Gioan XXIII đă đọc được “các dấu chỉ của thời đại” một cách sâu sắc163. Vấn đề xă hội đang trở nên có tính toàn cầu, liên hệ đến mọi quốc gia: cùng với vấn đề lao động và cuộc Cách mạng Công nghiệp, nay lại xuất hiện các vấn đề nông nghiệp, vấn đề các nước đang phát triển, vấn đề gia tăng dân số và những vấn đề liên quan tới nhu cầu hợp tác kinh tế toàn cầu. Những sự bất b́nh đẳng trước đây chỉ được trải nghiệm trong nội bộ các quốc gia, nay đang trở nên mang tính quốc tế và càng làm cho t́nh h́nh bi đát của Thế giới Thứ Ba thêm rơ rệt hơn bao giờ hết.

Trong Thông điệp Mater et Magistra (Mẹ và Thầy)164, Chân phúc Giáo hoàng Gioan XXIII “nhằm mục đích cập nhật các văn kiện đă có và tiến xa thêm một bước trong tiến tŕnh đưa toàn thể cộng đồng Kitô hữu hội nhập vào thế giới”165. Những từ khoá trong thông điệp này là “cộng đồng” và “xă hội hoá166: Giáo Hội được mời gọi hợp tác với mọi người xây dựng một sự hiệp thông đích thực trong chân lư, công bằng và bác ái. Có như thế, sự tăng trưởng kinh tế sẽ không bị giới hạn trong việc chỉ nhằm thoả măn các nhu cầu của con người, mà c̣n giúp thăng tiến phẩm giá con người.

95. Với Thông điệp Pacem in Terris (Hoà b́nh trên Thế giới)167, Chân phúc Giáo hoàng Gioan XXIII nêu lên hàng đầu vấn đề hoà b́nh trong một kỷ nguyên được đánh dấu bằng việc phát triển vũ khí hạt nhân. Ngoài ra, thông điệp c̣n chứa đựng một trong những suy tư sâu sắc đầu tiên về quyền của Giáo Hội; đó đúng là thông điệp của hoà b́nh và phẩm giá con người. Nó tiếp nối và bổ sung cuộc tranh luận trong Thông điệp Mater et Magistra. Và cũng theo chiều hướng mà Đức Lêô XIII đă vạch ra, thông điệp nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác giữa mọi người. Đây là lần đầu tiên một văn kiện Giáo Hội cũng được gửi cho “mọi người thiện chí”168, mời gọi mọi người tham gia vào một nhiệm vụ cao cả là “lập ra những phương pháp mới để quan hệ với nhau trong xă hội loài người trong chân lư, công bằng, yêu thương và tự do”169. Thông điệp nói nhiều đến thẩm quyền chung của cộng đồng thế giới, mời gọi họ hăy “tiếp cận và giải quyết các vấn đề mang tính kinh tế, xă hội, chính trị hay văn hoá do ích lợi chung của thế giới đặt ra”170. Nhân kỷ niệm mười năm Thông điệp Pacem in Terris, Đức Hồng y Maurice Roy, chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh, đă gửi cho Đức Giáo hoàng Phaolô VI một lá thư kèm theo một tài liệu với một loạt những suy nghĩ về các khả năng mà thông điệp trên đây của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII có thể cung cấp để soi sáng những vấn đề mới liên quan đến việc xây dựng hoà b́nh171.

96. Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng)172 của Công đồng Vatican II là một sự đáp ứng quan trọng của Giáo Hội trước các sự chờ mong của thế giới đương thời. Trong hiến chế ấy, “để hài hoà với sự canh tân Giáo Hội, đă có một quan niệm mới về việc làm thế nào để trở thành cộng đồng các tín hữu và cộng đồng dân Chúa. Nó thúc đẩy người ta quan tâm lại nền giáo huấn chứa đựng trong các văn kiện trước về việc làm chứng và đời sống của các Kitô hữu, được coi như những phương thế đích thực làm cho Thiên Chúa hiện diện trong thế giới hữu h́nh này”173. Hiến chế giới thiệu khuôn mặt của một Giáo Hội “thấy ḿnh thật sự liên đới sâu xa với loài người và lịch sử nhân loại”174, một Giáo Hội cùng đi chung một hành tŕnh với nhân loại và cùng chia sẻ số phận trần gian với thế giới, nhưng đồng thời cũng cố gắng “làm chút men và làm linh hồn của xă hội loài người đang muốn được Đức Kitô canh tân và biến đổi thành gia đ́nh Thiên Chúa”175.

Gaudium et Spes tŕnh bày một cách hệ thống các chủ đề về văn hoá, về đời sống kinh tế và xă hội, hôn nhân và gia đ́nh, về cộng đồng chính trị, về hoà b́nh và cộng đồng các dân tộc, dựa trên quan điểm nhân học Kitô giáo và sứ mạng Giáo Hội. Mọi sự đều được xem xét bắt đầu từ con người và hướng tới con người, “thụ tạo duy nhất mà Thiên Chúa muốn v́ chính nó”176. Xă hội, cơ cấu và sự phát triển xă hội phải được hướng tới chỗ giúp “con người tiến bộ”177. Lần đầu tiên, Huấn Quyền Giáo Hội, ở cấp cao nhất, nói nhiều về các khía cạnh thế trần khác nhau của đời sống Kitô hữu: “Phải công nhận rằng sự quan tâm của Hiến chế đối với những sự thay đổi về xă hội, tâm lư, chính trị, kinh tế, luân lư và tôn giáo càng ngày càng thúc đẩy… mối  quan tâm mục vụ của Giáo Hội đối với các vấn đề của con người và việc đối thoại với thế giới”178.

97. Một văn kiện quan trọng khác của Công đồng Vatican II trong tổng hợp giáo huấn xă hội của Giáo Hội là Tuyên ngôn Dignitatis Humanae (Phẩm giá Con người)179, trong đó Công đồng công bố rất minh bạch quyền tự do tôn giáo. Văn kiện tŕnh bày đề tài này trong hai chương. Chương thứ nhất, có tính cách tổng quát, khẳng định rằng tự do tôn giáo là quyền xây dựng trên phẩm giá con người và phải được phê chuẩn như một quyền dân sự trong trật tự pháp lư của xă hội. Chương thứ hai cũng bàn về chủ đề ấy nhưng dưới ánh sáng Mạc khải và t́m cách làm sáng tỏ những kết luận mục vụ rút ra từ chủ đề ấy, đồng thời chỉ ra rằng đó là một quyền liên quan đến con người không chỉ trong tư cách cá nhân mà cả trong tư cách các cộng đồng con người khác nữa.

98. “Phát triển là tên gọi mới của hoà b́nh”180, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đă long trọng tuyên bố như thế trong Thông điệp Populorum Progressio (Phát triển các Dân tộc)181, được xem là sự khai triển của chương nói về đời sống kinh tế và xă hội trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, dù thông điệp có đưa thêm vào một số yếu tố mới rất có ư nghĩa. Cách riêng, thông điệp đưa ra những nét khái quát về một sự phát triển con người toàn diện và về việc phát triển trong sự liên đới với toàn thể nhân loại: “Cần phải coi hai chủ đề này như các trục mà Thông điệp được kết cấu xoay quanh đó. Trong ước muốn thuyết phục những người tiếp nhận Thông điệp này cần hành động khẩn cấp trong tinh thần liên đới, Đức Giáo hoàng tŕnh bày phát triển là ‘sự chuyển tiếp từ những điều kiện kém nhân bản sang những điều kiện nhân bản hơn’, đồng thời cho thấy những đặc tính của sự phát triển ấy”182. Sự chuyển tiếp này không chỉ diễn ra trong các lĩnh vực kinh tế và công nghệ, mà c̣n gợi ư cho mỗi người trong việc tiếp thu nền văn hoá, việc tôn trọng phẩm giá người khác, việc nh́n nhận “điều thiện cao đẹp nhất, nhận ra chính Chúa là tác giả và là cùng đích của những ơn ích ấy”183. Phát triển mà làm lợi cho mọi người là sẽ đáp ứng các đ̣i hỏi của công lư trên phạm vi toàn cầu, điều này bảo đảm một nền hoà b́nh thế giới và tạo điều kiện để thực hiện một “nền nhân bản toàn diện”184 dưới sự hướng dẫn của các giá trị tinh thần.

99. Về điểm này, năm 1967, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đă thành lập Hội đồng Giáo hoàng về Công lư và Hoà b́nh (Justitia et Pax), và như thế thoả măn các nguyện vọng của các Nghị phụ Công đồng, các ngài coi đây là cơ hội thuận tiện nhất để thành lập một cơ quan của Giáo Hội toàn cầu, hầu có thể triển khai công lư và t́nh yêu của Đức Kitô đối với người nghèo ở khắp nơi. Vai tṛ của cơ quan ấy sẽ là thúc đẩy cộng đồng Công giáo đẩy mạnh sự tiến bộ tại các nơi nghèo đói và đẩy mạnh công lư xă hội trên thế giới”185. Đầu năm 1968, theo sáng kiến của Đức Giáo hoàng Phaolô VI, Giáo Hội cử hành ngày đầu tiên trong năm là Ngày Thế giới Hoà b́nh. Cũng chính vị Giáo hoàng này khởi sự truyền thống viết thông điệp hằng năm bàn về một chủ đề được chọn cho Ngày Thế giới Hoà b́nh ấy. Các thông điệp này triển khai và làm phong phú thêm cho tập hợp giáo huấn xă hội của Giáo Hội.

100. Đầu thập niên 1970, trong bầu khí sôi sục và tranh căi quyết liệt về ư thức hệ, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đă trở lại với giáo huấn xă hội của Đức Lêô XIII và cập nhật giáo huấn ấy, nhân kỷ niệm 80 năm Thông điệp Rerum Novarum, qua Tông thư Octogesima Adveniens (Tiến đến 80 năm) của ḿnh186. Đức Giáo hoàng suy nghĩ về xă hội thời hậu công nghiệp cùng với tất cả các vấn đề phức tạp của nó, nh́n nhận sự thật là các ư thức hệ không đủ khả năng đáp ứng các thách đố sau đây: hiện tượng đô thị hoá, t́nh trạng của giới trẻ, t́nh trạng của phụ nữ, t́nh trạng thất nghiệp, nạn kỳ thị, t́nh trạng di dân, sự gia tăng dân số, ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xă hội, vấn đề sinh thái.

101. Chín mươi năm sau Thông điệp Rerum Novarum, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă dành Thông điệp Laborem Exercens (Người lao động)187 cho vấn đề lao động, là giá trị căn bản của con người, là nhân tố trên hết của hoạt động kinh tế và là ch́a khoá của toàn bộ vấn đề xă hội. Thông điệp Laborem Exercens vạch ra một nền linh đạo và đạo đức cho việc lao động trong toàn bộ suy tư thần học và triết học sâu sắc. Lao động được hiểu không chỉ theo nghĩa khách quan và vật chất, mà c̣n phải ghi nhớ chiều kích chủ quan của lao động, như một sự biểu hiện bản thân con người. Bên cạnh vai tṛ là một hệ biến hoá mang tính quyết định cho đời sống xă hội, lao động c̣n có giá trị ở chỗ nó là khung cảnh trong đó thiên chức tự nhiên và siêu nhiên của con người được hoàn thành.

102. Với Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (Quan tâm đến Vấn đề Xă hội)188, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II kỷ niệm 20 năm Thông điệp Populorum Progressio và một lần nữa bàn tới chủ đề phát triển theo hai hướng căn bản: “một đàng là t́nh h́nh bi đát của thế giới hiện nay với sự thất bại của Thế giới Thứ Ba trong việc phát triển, và đàng khác là ư nghĩa của những điều kiện và những đ̣i hỏi để có được sự phát triển xứng đáng với con người”189. Thông điệp này cho thấy những sự khác nhau giữa tiến bộ và phát triển, đồng thời nhấn mạnh rằng “phát triển thực sự không phải chỉ là gia tăng của cải và dịch vụ – gia tăng những ǵ người ta có – mà c̣n phải là góp phần làm cho người ta được ‘làm người’ cách sung măn. Có như thế, bản chất luân lư của một sự phát triển đích thực mới được biểu lộ rơ ràng”190. Khi liên tưởng tới châm ngôn của triều Giáo hoàng Piô XII là opus justitiae pax (hoà b́nh là hoa trái của công lư), Đức Gioan Phaolô II đă b́nh luận: “Ngày nay, người ta cũng có thể nói một cách chính xác và mạnh mẽ như đă cảm hứng từ Thánh Kinh (x. Is 32,7; Gc 3,8): opus solidaritatis pax (hoà b́nh là hoa trái của t́nh liên đới)”191.

103.  Nhân kỷ niệm 100 năm Thông điệp Rerum Novarum, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đă ban hành thông điệp xă hội thứ ba của ḿnh, mang tên Centesimus Annus (Bách Chu Niên)192, cho thấy sự liên tục về mặt giáo lư của Huấn quyền Xă hội Công giáo suốt 100 năm. Lấy lại một trong những nguyên tắc căn bản trong quan điểm Kitô giáo về tổ chức xă hội và chính trị, đă từng là chủ đề chính của Thông điệp trước đó, Đức Giáo hoàng viết: “Cái mà ngày nay chúng ta gọi là nguyên tắc liên đới… đă từng là điều mà Đức Giáo hoàng Lêô XIII thường xuyên muốn nói khi dùng từ ngữ ‘hữu nghị’… Đức Piô XI cũng liên tưởng đến điều ấy khi dùng thuật ngữ hết sức ư nghĩa là ‘bác ái xă hội’. C̣n Đức Phaolô VI đă mở rộng khái niệm này để tóm gọn nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề xă hội, khi nói đến ‘văn minh t́nh yêu”193. Đức Gioan Phaolô II đă chứng minh làm thế nào giáo huấn xă hội của Giáo Hội có thể phát triển theo trục qua lại giữa Thiên Chúa và con người: nhận ra Chúa nơi mọi người và nh́n mọi người trong Chúa chính là điều kiện để phát triển con người cách đích thực. Sự phân tích một cách mạch lạc và sâu sắc “những sự việc mới”, cách riêng biến cố năm 1989 với sự sụp đổ của hệ thống Xô Viết, cho thấy sự am hiểu của ngài về nền dân chủ và kinh tế tự do, trong bối cảnh của một sự liên đới hết sức cần thiết.  

c. Dưới ánh sáng và sự thúc đẩy của Tin Mừng

104. Các văn kiện nêu trên đây chính là những cột mốc đánh dấu cuộc hành tŕnh mà học thuyết xă hội của Giáo Hội đă đi qua, kể từ thời Đức Giáo hoàng Lêô XIII cho đến hôm nay. Bản đúc kết ngắn gọn này có thể sẽ dài hơn, nếu chúng ta xét đến tất cả các sự can thiệp, hơn là theo một chủ đề đặc biệt, v́ “mối quan tâm mục vụ muốn giới thiệu cho toàn thể cộng đồng Kitô hữu và với mọi người thiện chí các nguyên tắc căn bản, các tiêu chuẩn phổ quát và các đường hướng phù hợp để có những sự lựa chọn căn bản và những việc làm cụ thể trong mỗi t́nh huống cụ thể”194.

Khi soạn thảo và giảng dạy học thuyết xă hội này, Giáo Hội đă và vẫn đang làm việc không phải do một động cơ lư thuyết nào mà do những mối quan tâm mục vụ. Giáo Hội được thúc đẩy bởi những âm hưởng mà các biến cố xă hội gây ra trên con người, trên quần chúng, trên phẩm giá con người, trong bối cảnh là “loài người đang vất vả t́m kiếm một thế giới tốt đẹp hơn nhưng lại không hành động với cùng một nhiệt tâm để cải thiện chính tinh thần của ḿnh”195. Chính v́ lư do đó, học thuyết xă hội này đă ra đời và đă được triển khai thành một “‘tổng hợp’ giáo lư cập nhật…, được xây dựng từ từ cùng lúc với Giáo Hội khi Giáo Hội dựa vào lời đă được Đức Kitô Giêsu mạc khải trọn vẹn và được Chúa Thánh Thần nâng đỡ (x. Ga 14,16.26; 16,13-15), để xem xét các biến cố như chúng đang diễn ra trong ḍng lịch sử”196.

 

CHƯƠNG BA

CON NGƯỜI VÀ NHÂN QUYỀN

I. HỌC THUYẾT XĂ HỘI VÀ NGUYÊN TẮC NHÂN VỊ

105. Giáo Hội nh́n thấy nơi mỗi người, nam cũng như nữ, h́nh ảnh sống động của chính Thiên Chúa. H́nh ảnh này mỗi ngày được triển khai thêm một cách trọn vẹn và sâu sắc hơn nơi mầu nhiệm Đức Kitô, h́nh ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa, Đấng duy nhất đă mạc khải Thiên Chúa cho con người và mạc khải con người cho chính con người. Những con người đă nhận được phẩm giá khôn sánh và bất diệt nơi Thiên Chúa ấy chính là những con người mà Giáo Hội muốn ngỏ lời, muốn đem đến cho họ sự phục vụ cao cả nhất và đặc biệt nhất, bằng cách kiên tŕ nhắc nhở họ về ơn gọi cao quư đó để họ luôn nhớ và sống cho xứng đáng. Đức Kitô, Con Thiên Chúa, “qua sự nhập thể của ḿnh đă tự kết hợp chính ḿnh một cách nào đó với mỗi một con người”197; v́ thế, Giáo Hội nh́n nhận nghĩa vụ căn bản của ḿnh là trông coi sao cho mối kết hợp ấy luôn được thực hiện và canh tân. Trong Đức Kitô là Chúa, Giáo Hội chỉ cho người ta thấy và cố gắng làm người đầu tiên bước vào lộ tŕnh ấy – tức là con người198, đồng thời mời gọi mọi người hăy nh́n nhận mỗi người – dù gần hay xa, quen hay lạ, nhất là những người nghèo và đau khổ – là anh chị em của ḿnh, những người “mà Đức Kitô đă chết cho họ” (1 Cr 8,11; Rm 14,15)199.

106. Toàn bộ đời sống xă hội đều là sự biểu hiện của một nhân vật chính không thể lầm lẫn được, đó chính là con người. Giáo Hội đă nhiều lần nhiều cách làm trạng sư có thẩm quyền giúp người ta hiểu, nh́n nhận và khẳng định con người là trọng tâm của mọi lĩnh vực và mọi biểu hiện trong xă hội: “Bởi đó, xă hội loài người chính là đối tượng của giáo huấn xă hội của Giáo Hội, v́ Giáo Hội không đứng ngoài cũng chẳng đứng trên những con người liên kết thành xă hội, mà Giáo Hội chỉ tồn tại nơi những con người, và bởi đó, Giáo Hội tồn tại v́ những con người”200. Nhận thức quan trọng này được phản ánh trong lời khẳng định sau đây: “Thay v́ làm đối tượng hay làm nhân tố thụ động của đời sống xă hội”, con người “nên và phải luôn luôn là chủ thể, là nền tảng và là mục tiêu của đời sống xă hội”201. V́ thế, nguồn gốc của đời sống xă hội là chính con người, và xă hội không thể nào không nh́n nhận chủ thể tích cực và hữu trách của ḿnh; mọi biểu hiện của xă hội đều phải quy hướng về con người.

107. Trong những hoàn cảnh cụ thể của lịch sử, con người chính là trọng tâm và linh hồn của tư duy xă hội Công giáo202. Thật vậy, toàn bộ Học thuyết Xă hội Công giáo chẳng qua chỉ là sự triển khai nguyên tắc: con người có phẩm giá bất khả xâm phạm203. Trong tất cả những nghĩa cử đa dạng bày tỏ nhận thức ấy, Giáo Hội luôn cố gắng bênh vực phẩm giá con người mỗi khi có toan tính xác định lại hay bóp méo h́nh ảnh ấy; Giáo Hội cũng thường xuyên tố cáo những sự xâm phạm phẩm giá con người. Lịch sử đă xác nhận rằng chính cơ cấu h́nh thành nên các quan hệ xă hội nổi lên một số khả năng thăng hoa con người, nhưng cũng chính trong cơ cấu ấy lại tiềm tàng những loại bỏ ghê tởm nhất đối với phẩm giá con người.

II. CON NGƯỜI NHƯ “H̀NH ẢNH THIÊN CHÚA” (IMAGO DEI)

a. Những thụ tạo theo h́nh ảnh Thiên Chúa

108. Thông điệp căn bản của Thánh Kinh cho biết con người là thụ tạo của Thiên Chúa (x. Tv 139,14-18), và theo thông điệp ấy, h́nh ảnh Thiên Chúa nơi con người chính là yếu tố định tính và phân biệt con người: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh ảnh ḿnh, Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh ảnh Thiên Chúa; Ngài sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Thiên Chúa đặt con người vào trung tâm và chóp đỉnh của trật tự sáng tạo. Con người (theo tiếng Hipri là “adam”) được tạo dựng từ đất (adamah) và Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào mũi Ađam (x. St 2,7). Bởi đó, “được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị, không phải chỉ là một cái ǵ đó mà là một ai đó. Con người có khả năng biết ḿnh, làm chủ ḿnh, tự do hiến ḿnh và tự nguyện hiệp thông với người khác. Hơn thế nữa, con người được ơn Chúa mời gọi kư kết giao ước với Đấng Tạo Hoá của ḿnh, lấy đức tin và t́nh yêu đáp trả Ngài, một sự đáp trả mà không thụ tạo nào có thể làm thay con người”204.

109. Giống Thiên Chúa, điều này chứng tỏ bản chất và hiện hữu của con người có liên quan đến Thiên Chúa một cách hết sức sâu xa205. Đây là một mối quan hệ tự thân, v́ thế không phải là một cái ǵ đó đến sau và được thêm vào từ bên ngoài. Toàn thể cuộc sống con người chẳng qua chỉ là một sự t́m kiếm Thiên Chúa. Mối quan hệ này của con người với Thiên Chúa có thể không được người ta biết, thậm chí bị bỏ quên hay từ chối, nhưng không bao giờ bị loại bỏ hẳn. Thật vậy, trong số các thụ tạo hữu h́nh của thế giới, chỉ có con người mới “có khả năng t́m Chúa” (homo est Dei capax)206. Con người là một ngôi vị do Chúa tạo dựng để liên hệ với Ngài; chỉ trong mối liện hệ này, con người mới t́m được sự sống, mới thể hiện chính ḿnh và hướng về Thiên Chúa một cách tự nhiên207.

110. Quan hệ giữa Thiên Chúa và con người được phản ánh trong chiều hướng tương quan và xă hội của bản tính con người. Thật vậy, con người không phải là một hữu thể cô độc, mà là “một hữu thể xă hội, không thể nào sống cũng như không thể nào phát triển tiềm năng của ḿnh bao lâu con người không liên hệ với người khác”208. Về điểm này, sự kiện Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ (x. St 1,27) thật là ư nghĩa209: “Điều đáng chú ư là sự không thoả măn, biểu hiện trong cuộc sống con người tại vườn Địa Đàng, vẫn sẽ tồn tại bao lâu con người c̣n lấy thế giới thảo mộc và động vật làm điểm tham khảo duy nhất của ḿnh (x. St 2,20). Chỉ có sự xuất hiện của người phụ nữ, một hữu thể là thịt lấy từ thịt của Ađam và là xương lấy từ xương của ông (x. St 2,23), cũng là hữu thể mà nơi đó Thần Khí của Thiên Chúa Tạo Hoá đang hoạt động, mới có thể thoả măn nhu cầu đối thoại liên vị rất quan trọng cho cuộc sống con người. Trong mỗi người thân cận của ḿnh, bất kể là nam hay nữ, đều có sự phản ánh của chính Thiên Chúa, mục tiêu cuối cùng và sự hoàn thành của mỗi một con người”210.  

111. Người nam và người nữ có cùng phẩm chất như nhau và b́nh đẳng về giá trị211, không phải chỉ v́ cả hai tuy có những điểm khác biệt nhưng đều được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa, mà sâu xa hơn c̣n v́ tác động lực tương tác đem lại sự sống cho ngôi vị, “chúng ta” giữa hai người, cũng chính là một h́nh ảnh của Thiên Chúa.212 Trong mối quan hệ hiệp thông với nhau, người nam và người nữ làm cho ḿnh được sung măn một cách hết sức sâu xa, khám phá thấy ḿnh là những ngôi vị nhờ sự hiến thân chân thành ấy213. Giao ước kết hợp giữa hai người được Thánh Kinh tŕnh bày như h́nh ảnh Giao ước giữa Thiên Chúa với con người (x. Os 1–3; Is 54; Ep 5,21-33), đồng thời như một cách phục vụ cho sự sống214. Thật vậy, vợ chồng có thể tham gia vào hành động sáng tạo của Thiên Chúa: “Thiên Chúa chúc lành cho họ và nói với họ: “Hăy sinh sôi và nảy nở cho đầy mặt đất và hăy thống trị mặt đất” (St 1,28).

112. Người nam và người nữ liên hệ với những người khác như những người được giao cho sự sống của người khác215. “Ta sẽ đ̣i con người phải đền nợ máu… Ta sẽ đ̣i con người phải đền mạng sống của người anh em ḿnh” (St 9,5). Đó là điều Chúa phán với Noê sau trận lụt. Nh́n trong viễn tượng ấy, quan hệ với Thiên Chúa đ̣i người ta phải coi mạng sống con người là linh thiêng và bất khả xâm phạm.216 Sở dĩ giới răn thứ năm có giá trị (“Ngươi không được giết người”: Xh 20,13; Đnl 5,17) là v́ chỉ có Thiên Chúa mới là chủ tể sự sống và sự chết217. Ḷng kính trọng đối với sự sống bất khả xâm phạm và vẹn toàn lên tới cao điểm trong giới răn tích cực này: “Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính ḿnh” (Lv 19,18), qua đó, Đức Giêsu đă ràng buộc thêm bổn phận chăm lo cho các nhu cầu của người khác (x. Mt 22,37-40; Mc 12,29-31; Lc 10,27-28).

113. Chính với ơn gọi đặc biệt này đối với sự sống mà người nam và người nữ cũng thấy ḿnh hiện diện với tất cả các thụ tạo khác. Họ có khả năng và bổn phận lấy các thụ tạo khác phục vụ ḿnh và hưởng dùng chúng, nhưng việc chế ngự thế giới đ̣i hỏi họ phải thi hành trách nhiệm chứ không được tự do khai thác cách tuỳ tiện và ích kỷ. Thật vậy, mọi thụ tạo đều có giá trị và đều “tốt lành” (x. St 1,4.10.12.18.21.25) trước mặt Chúa, tác giả của chúng. Con người phải biết khám phá và tôn trọng giá trị của chúng. Đây là một thách thức lớn lao đối với trí khôn con người; chính trí khôn ấy sẽ nâng con người lên và đưa họ như bay lên218 tới chỗ chiêm ngắm sự thật của tất cả các thụ tạo của Thiên Chúa, tức là chiêm ngắm cái mà Thiên Chúa thấy là “tốt lành” nơi các thụ tạo ấy. Sách Sáng Thế dạy rằng con người thống trị thụ tạo chủ yếu bằng cách “đặt tên cho chúng” (x. St 2,19-20). Khi cho chúng những cái tên, hẳn con người đă nh́n ra chúng đúng như sự thật của chúng và đă có quan hệ trách nhiệm đối với chúng219.

114. Con người cũng quan hệ với chính ḿnh và có khả năng suy tư về chính ḿnh. Về điểm này, Thánh Kinh hay nhắc tới “tâm hồn con người”. Tâm hồn chỉ rơ sự thiêng liêng bên trong con người, phân biệt con người với các thụ tạo khác. Thiên Chúa “làm ra hết mọi sự tốt đẹp vào đúng thời đúng lúc của nó; Ngài cũng đặt vào tâm trí con người ư niệm vĩnh cửu, nhưng con người không thể nào hiểu biết được ư nghĩa công tŕnh Thiên Chúa thực hiện từ khởi thuỷ đến cùng tận” (Gv 3,11). Sau cùng, tâm hồn biểu lộ những khả năng thiêng liêng riêng của con người, cũng là những đặc ân con người có được khi được tạo dựng theo h́nh ảnh Đấng Tạo Hoá, đó là lư trí, sự phân biệt tốt xấu, ư muốn tự do220. Khi con người chú ư lắng nghe những khát vọng sâu xa của tâm hồn ḿnh, con người không thể không thốt lên những lời rất thật sau đây của thánh Augustinô: “Chúa đă tạo dựng chúng con cho Chúa, lạy Chúa, nên tâm hồn chúng con măi khắc khoải cho tới khi được nghỉ ngơi trong Chúa”221.

b. Bi kịch của tội

115. Cảnh tượng tuyệt vời mô tả con người được Chúa tạo dựng không thể tách rời khỏi sự xuất hiện bi đát của tội nguyên tổ. Thánh Phaolô đă khẳng định rơ ràng khi tóm tắt sự sa ngă của con người trong những trang đầu của Sách Thánh: “Tội lỗi đă xâm nhập vào thế gian qua một con người và tội lỗi gây nên sự chết” (Rm 5,12). Chống lại lệnh cấm của Thiên Chúa, con người đă để cho ḿnh bị con rắn quyến rũ và đă giơ tay hái trái trên cây sự sống, và thế là đă trở thành nạn nhân của sự chết. Qua cử chỉ ấy, con người đă phá vỡ giới hạn thụ tạo của ḿnh, thách thức Chúa, là Thiên Chúa duy nhất và là nguồn sự sống của ḿnh. Chính tội bất tùng phục ấy (x. Rm 5,19) đă tách con người ra khỏi Chúa222.

Cũng từ mạc khải ấy, chúng ta biết rằng Ađam – con người đầu tiên – đă vi phạm giới răn của Chúa, đánh mất sự thánh thiện và công chính mà ḿnh đă có khi được tạo dựng, một sự thánh thiện và công chính con người đă nhận được không chỉ cho riêng ḿnh mà c̣n cho hết mọi người: “Khi chiều theo tên cám dỗ, Ađam và Eva đă phạm một tội cá nhân, nhưng tội này đă ảnh hưởng tới bản tính nhân loại, là bản tính mà nguyên tổ đă truyền lại trong t́nh trạng sa ngă. Đó là một tội được truyền lại bằng cách làm lan ra tới hết mọi người, nghĩa là được truyền lại một bản tính đă mất đi sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ”223.

116. Khi lần tới tận gốc các chia rẽ của cá nhân và xă hội, đang xúc phạm tới giá trị và phẩm chất của con người ở những mức độ khác nhau, chúng ta luôn thấy có một vết thương nằm trong nơi sâu xa nhất của con người. “Trong ánh sáng đức tin, chúng ta gọi đó là tội: từ tội nguyên tổ, mà mọi người chúng ta đều phải mang từ khi sinh ra như một di sản chúng ta thừa kế được nơi tổ tiên chúng ta, cho tới tôi mà mỗi người chúng ta phạm khi lạm dụng sự tự do của ḿnh”224. Hậu quả của tội, bao lâu nó c̣n là hành vi xa rời Chúa, chính là sự tha hoá, tức là sự xa rời của con người không những với Chúa mà c̣n với chính ḿnh, với người khác và với thế giới chung quanh. “Sự đoạn tuyệt của con người với Chúa trớ trêu thay đưa chúng ta tới chỗ chia rẽ với nhau. Trong bài mô tả “tội nguyên thuỷ”, chúng ta thấy khi đoạn tuyệt với Giavê th́ đồng thời cũng cắt đứt mối thân hữu từng nối kết gia đ́nh nhân loại với nhau. Thế nên, các trang tiếp theo của sách Sáng Thế cho chúng ta thấy người đàn ông và người đàn bà giơ tay tố cáo nhau (x. St 3,12). Về sau, chúng ta lại thấy anh em ghét nhau và sau cùng lấy mạng sống của nhau (x. St 4,2-16). Dựa theo câu chuyện tháp Babel, hậu quả của tội chính là sự tan nát của gia đ́nh nhân loại, đă khởi sự với tội nguyên tổ và nay lên tới h́nh thức cực đoan nhất trên b́nh diện xă hội”225. Suy nghĩ về mầu nhiệm của tội, chúng ta không thể không lưu ư tới mối quan hệ bi đát giữa nguyên nhân và hậu quả ấy. 

117. Mầu nhiệm tội được cấu thành bởi một vết thương hai mặt, mà tội nhân bộc lộ nơi ḿnh, cũng như thể hiện ra trong quan hệ với người thân cận. Đó chính là lư do tại sao chúng ta nói tội cá nhân và tội xă hội. Tội nào cũng là tội cá nhân xét về một phương diện nào đó; nhưng xét về một phương diện khác, tội nào cũng là tội xă hội, trong mức độ nó cũng gây ra những hậu quả trong xă hội. Nếu xét cho đúng nghĩa th́ tội luôn luôn là một hành vi của con người, v́ đó là hành vi tự do của một cá thể, chứ không phải là hành vi của một tập thể hay một cộng đồng cách đúng nghĩa. Đành rằng tính xă hội có thể được t́m thấy trong hết mọi tội, nếu xét tới sự kiện “do sự liên đới vừa mầu nhiệm và không thể nắm bắt được, vừa rất thật và rất cụ thể, tội nào của cá nhân cũng tác động tới người khác một cách nào đó”226. Tuy nhiên, thật là không chính đáng hay không thể chấp nhận được nếu hiểu tội xă hội theo cách: nó làm giảm nhẹ hay xoá hết trách nhiệm của cá nhân, dù là hữu ư hay vô t́nh, do chỉ nh́n nhận sự sai trái và trách nhiệm của xă hội. Lần tới cùng của bất cứ t́nh huống tội lỗi nào, cũng luôn luôn thấy có những cá nhân đă phạm tội. 

118. Ngoài ra, có một số tội do chính đối tượng của chúng là những hành vi trực tiếp xúc phạm đến người thân cận. Những tội đó đặc biệt được gọi là tội xă hội. Tội xă hội là bất cứ tội nào xúc phạm tới sự công bằng phải có trong các quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng, và giữa cộng đồng với cá nhân. Tội xă hội cũng là bất cứ tội nào chống lại các quyền lợi của con người, khởi đi từ quyền được sống, bao gồm cả sự sống trong bụng mẹ, cho đến bất cứ tội nào chống lại sự toàn vẹn thân thể của cá nhân; là bất cứ tội nào chống lại sự tự do của người khác, nhất là sự tự do cao cả nhất để tin vào Thiên Chúa và thờ phượng Ngài; và là bất cứ tội nào chống lại phẩm giá và danh dự của người thân cận. Bất cứ tội nào chống lại ích chung và những đ̣i hỏi của công ích, trong lĩnh vực rộng lớn của quyền hạn và nghĩa vụ người công dân, cũng đều là tội xă hội. Sau cùng, tội xă hội là tội “liên quan tới các mối quan hệ giữa các cộng đồng nhân loại khác nhau. Những mối quan hệ ấy không hẳn lúc nào cũng phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng muốn thấy có công lư trên thế giới, có tự do và hoà b́nh giữa các cá nhân, các tập thể và các dân tộc”227.

119. Các hậu quả của tội làm cho cơ cấu của tội kéo dài măi măi. Những cơ cấu này lại ẩn sâu trong tội cá nhân, và bởi đó, luôn có liên quan với các hành vi cụ thể của người phạm tội, làm cho các cơ cấu ấy thêm vững chắc và càng khó tẩy trừ. Bằng cách đó, tội trở nên trầm trọng hơn, dễ lan truyền và trở thành nguồn phát sinh ra các tội khác, chi phối cách ứng xử của con người228. Đó là những trở ngại và là những điều kiện vượt ra khỏi các hành vi và thời gian sống vắn vỏi của cá nhân, để can thiệp vào quá tŕnh phát triển của các dân tộc; việc chậm trễ và tŕ trệ trong công cuộc phát triển là phải xét đến t́nh trạng này229. Những hành vi và thái độ chống lại ư muốn của Chúa và ích lợi của tha nhân, cũng như những cơ cấu phát sinh từ những cách ứng xử đó, ngày nay có thể xếp vào hai loại: “một đàng là dành tất cả mọi ước muốn cho việc thu lợi nhuận, và đàng khác, là khát khao quyền lực với ư định áp đặt ư muốn của ḿnh lên người khác. Để xác định thêm tính chất của hai thái độ này, chúng ta có thể dùng thành ngữ sau đây: ‘bằng bất cứ giá nào’”230.

c. Tính phổ quát của tội và tính phổ quát của ơn cứu độ

120. Giáo lư về tội nguyên tổ, cho biết tội mang tính phổ quát, có nền tảng rất quan trọng: “Nếu chúng ta nói ḿnh vô tội là chúng ta tự lừa dối ḿnh, và sự thật không có nơi chúng ta” (1 Ga 1,8). Giáo lư này khuyến khích mọi người đừng ở lại trong tội và đừng coi nhẹ tội, cũng như đừng liên tục đổ lỗi cho người khác và t́m cách biện minh do hoàn cảnh, do di truyền, do tổ chức, do cơ chế và do các mối quan hệ. Giáo lư này vạch trần mọi sự lừa dối ấy.

Tuy nhiên, không được tách rời giáo lư về sự phổ quát của tội với ư thức về sự phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Nếu không, nó sẽ khiến ta lo ngại cách sai lầm về tội và có cái nh́n bi quan về thế giới và cuộc đời, khiến chúng ta khinh chê các thành quả về văn hoá và đời sống dân sự của loài người.

121. Với tinh thần thực tế, người Kitô hữu nh́n thấy vực sâu của tội, nhưng luôn nh́n nó trong ánh sáng hy vọng – c̣n lớn hơn bất cứ sự xấu xa nào – do công cuộc cứu chuộc của Đức Kitô mang lại, nhờ đó tội và cái chết đă bị tiêu diệt (x. Rm 5,18-21; 1 Cr 15,56-57): “Trong Ngài, Thiên Chúa đă hoà giải con người với ḿnh”.231 Chính Đức Kitô – h́nh ảnh của Thiên Chúa (x. 2 Cr 4,4; Cl 1,15) – đă làm cho h́nh ảnh và nét tương đồng với Thiên Chúa nơi con người được sáng lên đầy đủ và được thể hiện trọn vẹn. Ngôi Lời, đă trở thành con người nơi Đức Giêsu Kitô, măi măi vẫn là sự sống và ánh sáng của nhân loại, ánh sáng soi chiếu từng người một (x. Ga 1,4.9). Thiên Chúa muốn mọi người đều được cứu độ trong một Đấng trung gian duy nhất là Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài (x. 1 Tm 2,4-5). Đức Giêsu vừa là Con Thiên Chúa vừa là Ađam mới, tức là con người mới (x. 1 Cr 15,47-49; Rm 5,14). “Chính trong khi mạc khải mầu nhiệm Chúa Cha và t́nh yêu của Ngài, Đức Kitô Ađam mới đă mạc khải trọn vẹn con người cho chính họ và cho con người thấy ơn gọi cao cả nhất của họ”232. Trong Người, nhờ Thiên Chúa, chúng ta “được tiền định để trở nên giống h́nh ảnh Con Thiên Chúa, ngơ hầu Người trở thành trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29).

122. Thực tại mới mà Đức Giêsu Kitô mang đến cho chúng ta không được ghép vào bản tính loài người, cũng chẳng được thêm vào từ bên ngoài, nhưng đúng hơn, đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi mà con người luôn khao khát hướng tới tự trong bản chất sâu xa của ḿnh, do ḿnh đă được tạo dựng giống Thiên Chúa. Thế nhưng, đó cũng là một thực tại mà con người không thể đạt được chỉ bằng sức ḿnh. Nhờ Thánh Thần của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Nhập thể – nơi Người sự hiệp thông luôn được thực hiện một cách đặc biệt – con người mới được tiếp nhận làm con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,14-17; Gl 4,4-7). Nhờ Đức Kitô, chúng ta được chia sẻ bản tính Thiên Chúa, Đấng ban phát cho chúng ta cách vô hạn định hơn cả “điều chúng ta cầu xin hay nghĩ tới” (Ep 3,20). Điều mà nhân loại đă nhận được chẳng qua chỉ là một dấu hiệu hay một “bảo chứng” (2 Cr 1,22; Ep 1,14) cho những ǵ ḿnh sẽ nhận trọn vẹn khi ra trước mặt Chúa, “diện đối diện” (1 Cr 13,12), tức là bảo chứng của sự sống đời đời: “Và đây là sự sống đời đời, đó là họ biết Cha là Thiên Chúa duy nhất chân thật và Đức Giêsu Kitô là Đấng Cha đă sai đến” (Ga 17,3).

123. Trong niềm hy vọng phổ quát ấy, bên cạnh những người nam cũng như nữ thuộc mọi dân tộc, c̣n bao gồm cả trời và đất: “Trời cao hỡi, hăy gieo sương xuống, mây hăy đổ mưa, mưa đức công chính. Đất mở ra đi, nẩy mầm ơn cứu độ; đồng thời chính trực sẽ vươn lên. Ta là Đức Chúa đă làm điều ấy” (Is 45,8). Theo Tân Ước, toàn thể thụ tạo cùng với nhân loại đều chờ đợi Đấng Cứu Chuộc: bị lâm vào cảnh hư ảo nhưng thụ tạo vẫn vươn lên, ḷng đầy hy vọng, dù miệng rên xiết than thở, trông mong được giải thoát khỏi tiêu vong (x. Rm 8,18-22).

III. NHỮNG KHÍA CẠNH ĐA DẠNG CỦA CON NGƯỜI

124. V́ đánh giá cao thông điệp tuyệt vời của Thánh Kinh, Học thuyết Xă hội Công giáo muốn dừng lại để chiêm ngắm trước hết các chiều hướng chính yếu và căn bản của con người; nhờ đó có thể bắt gặp được những khía cạnh ư nghĩa nhất trong mầu nhiệm và phẩm giá con người. Trong quá khứ, đă không thiếu những quan niệm giản lược về con người, mà nhiều quan niệm trong số đó rất tiếc vẫn c̣n có mặt trên sân khấu của lịch sử hôm nay. Đó là những quan niệm mang tính ư thức hệ hay đơn giản chỉ là kết quả của những thói quen hoặc suy nghĩ phổ biến về con người, về đời sống con người và về định mệnh con người. Mẫu số chung của những quan niệm này là t́m cách làm cho h́nh ảnh của con người trở nên mơ hồ do chỉ nhấn mạnh một đặc điểm nào đó và bỏ đi các đặc điểm c̣n lại233.

125. Con người không bao giờ được phép suy nghĩ ḿnh chỉ là một cá thể không hơn không kém, được tạo ra bởi chính ḿnh và hoàn toàn dựa vào chính ḿnh, làm như các đặc điểm chính yếu của con người đều dựa vào chính con người chứ không lệ thuộc một ai khác. Cũng không thể nghĩ con người chỉ là một tế bào đơn thuần trong một cơ thể, mà khuynh hướng nhiều nhất là nh́n nhận nó có vai tṛ vận hành trong toàn bộ hệ thống. Những quan niệm giản lược về sự thật trọn vẹn của con người như thế đă từng là mối lo của Giáo Hội, và Giáo Hội đă không ngừng lên tiếng phản đối, như đă phản đối các viễn tượng mang tính giản lược tai hại khác, và thay vào đó, Giáo Hội đă mạnh mẽ công bố “con người cá thể không được coi ḿnh là những đơn vị cô lập như những hạt cát, mà là những đơn vị nối kết nhau bằng chính sức mạnh là bản tính và định mệnh nội tại của ḿnh, nối kết với nhau thành những quan hệ rất hữu cơ và hài hoà”234. Giáo Hội đă quả quyết người ta không thể hiểu con người “chỉ là một nhân tố, một phân tử trong cơ thể xă hội”235. Điều Giáo Hội quan tâm là làm sao cho người ta hiểu rằng khi Giáo Hội khẳng định sự ưu việt của con người, Giáo Hội không có ư muốn đề cao nhăn quan cá nhân chủ nghĩa hoặc ô hợp chủ nghĩa.

126. Khi mời gọi phải t́m kiếm bất cứ điều ǵ tốt lành và xứng đáng với con người ở bất cứ chỗ nào có thể t́m kiếm (x. 1 Ts 5,21), đức tin Kitô giáo “đă tự đặt ḿnh đứng bên trên hay đôi khi chống lại các ư thức hệ, ở chỗ đức tin này nh́n nhận Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt và là Đấng Tạo Hoá, là Đấng mời gọi con người, thông qua mọi loài thụ tạo, như một thụ tạo được phú bẩm trách nhiệm và tự do”236.

Học thuyết Xă hội Công giáo t́m cách chỉ ra những khía cạnh khác nhau của mầu nhiệm con người: con người phải được t́m hiểu “trong sự thật toàn vẹn của ḿnh, từ sự hiện hữu của bản thân con người cho đến chiều hướng cộng đồng và xă hội”237, với sự quan tâm đặc biệt sao cho giá trị của con người được mọi người sẵn sàng nh́n nhận.

A. TÍNH THỐNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI

127. Con người được Thiên Chúa tạo dựng thành một thể thống nhất của xác và hồn238. “Hồn bất tử và thiêng liêng là nguyên lư thống nhất của con người, làm con người hiện hữu như một tổng thể – một đơn vị duy nhất gồm xác và hồn – và như một ngôi vị. Những xác định này không chỉ cho thấy thân xác, từng được hứa hẹn sẽ sống lại, cũng sẽ được vinh quang; chúng c̣n nhắc nhở chúng ta rằng lư trí và ước muốn tự do luôn gắn chặt với tất cả những cơ năng của thân xác và giác quan. Con người, kể cả thân xác, được giao phó hoàn toàn cho chính con người, và chính nhờ sự thống nhất xác hồn ấy mà con người là chủ thể của tất cả các hành vi luân lư của ḿnh239.

128. Thông qua thân xác ḿnh, con người thống nhất nơi ḿnh các yếu tố của thế giới vật chất; những yếu tố ấy “đạt tới đỉnh cao nơi con người và thông qua con người, chúng tự do cất lời ca ngợi Đấng Tạo Hoá”240. Nhờ chiều hướng này, con người có thể tham gia vào thế giới vật chất, không phải như nhốt ḿnh trong một nhà tù hay bắt ḿnh phải lưu đày. V́ thế, không thích đáng chút nào khi chúng ta khinh rẻ đời sống thể xác; mà đúng ra “con người… phải nh́n thân xác ḿnh như một điều tốt lành và đáng quư, v́ thân xác ấy do chính Chúa tạo dựng và sẽ được Ngài cho sống lại trong ngày sau hết”241. Tuy nhiên, cũng chính v́ có chiều hướng thân xác này, nhất là sau khi thân xác ấy bị tội lỗi gây thương tích, mà con người cảm nghiệm được những sự nổi loạn của thân xác và những xu hướng lệch lạc của tâm hồn ḿnh; con người phải luôn luôn cẩn thận theo dơi chúng, kẻo ḿnh bị nô lệ chúng và trở thành nạn nhân của một nhân sinh quan hoàn toàn trần tục.

Thông qua sự linh thiêng của ḿnh, con người vượt lên trên thế giới của những sự vật và đi vào nơi sâu thẳm nhất của thực tại. Khi bước vào ḷng ḿnh, nghĩa là khi suy nghĩ về định mệnh của ḿnh, con người khám phá ra ḿnh trổi vượt hơn thế giới vật chất v́ ḿnh có phẩm giá hết sức độc đáo là phẩm giá của một người được tṛ chuyện với Thiên Chúa, được quyết định về cuộc đời ḿnh dưới con mắt của Thiên Chúa. Trong đời sống nội tâm, con người nhận ra ḿnh có “một linh hồn bất tử và thiêng liêng”, con người không chỉ là “một mảnh vụn của thiên nhiên hay một thành phần vô danh trong đô thị loài người”242.

129. Bởi đó, con người có hai đặc điểm khác nhau: là hữu thể vật chất, có liên quan với thế giới này qua thân xác ḿnh, và là hữu thể thiêng liêng, mở ra với siêu việt và có thể khám phá ra “những chân lư c̣n sâu xa hơn” nhờ trí khôn của ḿnh, qua đó “con người chia sẻ ánh sáng của trí tuệ Thiên Chúa”243. Giáo Hội khẳng định: “Hồn và xác hợp nhất với nhau sâu xa đến nỗi phải coi hồn là ‘mô thức’ của xác, nghĩa là chính v́ hồn thiêng liêng mà thân xác làm bằng vật chất mới trở thành một thân thể của con người sống động; tinh thần và vật chất nơi con người không phải là hai bản tính kết hợp với nhau, mà đúng hơn, nhờ sự kết hợp của chúng với nhau làm thành một bản tính duy nhất”244. Cả chủ nghĩa duy tâm coi thường thực tại của thân xác, lẫn chủ nghĩa duy vật coi tinh thần chỉ là một biểu hiện của vật chất, đều không tôn trọng bản tính phức tạp, sự toàn vẹn và tính thống nhất của hữu thể con người.

B. CON NGƯỜI MỞ RA VỚI SIÊU VIỆT VÀ ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ

a. Mở ra với siêu việt

130. Mở ra với siêu việt là một đặc tính của con người: con người mở ra với Đấng vô biên cũng như với mọi thụ tạo. Trên hết, con người mở ra với Đấng vô biên, tức là Thiên Chúa, v́ nhờ trí khôn và ư chí, con người có thể nâng ḿnh lên trên mọi thụ tạo và cả chính ḿnh; con người có thể độc lập với thụ tạo, tự do trong quan hệ với thụ tạo, vươn tới sự thật toàn diện và điều thiện tuyệt đối. Con người cũng mở ra với tha nhân, với mọi người nam nữ trong thế giới, v́ chỉ khi hiểu ḿnh trong tương quan với “ngôi thứ hai”, con người mới xưng ḿnh được là “tôi”. Con người bước ra khỏi chính ḿnh, khỏi việc chỉ lo bảo vệ cuộc sống của chính ḿnh để bước vào một quan hệ đối thoại và hiệp thông với những người khác.

Con người mở ra với sự hiện hữu sung măn, với chân trời vô biên của hiện hữu. Nơi ḿnh, con người có khả năng vượt lên trên những đối tượng cá biệt. Theo một nghĩa nào đó, linh hồn là tất cả mọi sự nhờ chiều hướng nhận thức của nó: “mọi sự vật phi vật chất đều mang tính vô biên một cách nào đó, bao lâu chúng bao trùm lấy mọi sự, hoặc v́ đây là vấn đề thuộc về bản chất của thực tại thiêng liêng, mà nó vận hành như một khuôn mẫu và là sự tương đồng của hết mọi sự, như trường hợp của Thiên Chúa, hoặc v́ linh hồn có sự tương đồng với mọi sự, một cách ‘hiện thể’ (in actu) như các thiên thần, hay ‘tiềm thể’ (in protentia) như các linh hồn”245.

b. Độc đáo và không thể sao chép

131. Con người hiện hữu như một hữu thể độc đáo và không thể sao chép, con người hiện hữu như một cái “tôi” có khả năng hiểu ḿnh, làm chủ ḿnh và tự quyết về ḿnh. Con người là một hữu thể hiểu biết và có ư thức, có khả năng suy nghĩ về ḿnh và bởi đó ư thức về ḿnh và về hành vi của ḿnh. Tuy nhiên, không phải trí khôn, ư thức và tự do xác định con người, mà đúng hơn chính con người là nền tảng cho những hành vi của trí khôn, ư thức và tự do. Những hành vi này có thể thiếu hay ngay cả không có, th́ con người vẫn không ngừng là con người.

Phải luôn hiểu con người trong sự độc đáo, không thể sao chép và không thể xâm phạm. Thật vậy, con người hiện hữu trước hết như một thực thể làm chủ thể, như một trung tâm của ư thức và tự do mà những kinh nghiệm sống của mỗi một người, không thể so sánh với kinh nghiệm của bất cứ ai. Điều này cũng nhấn mạnh đến việc không thể chấp nhận bất cứ toan tính nào muốn giản lược thân phận con người bằng cách ép con người đi vào trong các phạm trù đă được dự tính trước hay vào các hệ thống quyền lực đă có sẵn, dù có thuộc ư thức hệ hay không. Sự kiện này trước hết đ̣i hỏi mọi con người trên trái đất, nam cũng như nữ, không chỉ đơn giản là phải được người khác tôn trọng, nhất là đối với các cơ quan chính trị và xă hội, cũng như các nhà lănh đạo các cơ quan ấy, mà hơn thế nữa, điều ấy c̣n có nghĩa là mối bận tâm trước hết của con người đối với người khác, đặc biệt là của các cơ quan nói trên, là phải làm sao để thăng tiến và phát triển toàn diện con người.

c. Tôn trọng nhân phẩm

132. Một xă hội công bằng chỉ trở thành hiện thực khi được xây dựng trên việc tôn trọng phẩm giá siêu việt của con người. Con người là mục tiêu tối hậu của xă hội, xă hội được tổ chức là nhắm tới con người: “Thế nên, trật tự xă hội và sự phát triển của xă hội phải luôn luôn nhắm tới lợi ích của con người, v́ trật tự sự vật phải lệ thuộc vào trật tự con người, chứ không theo cách ngược lại”246. Không thể tách rời việc tôn trọng phẩm giá con người với việc tuân thủ nguyên tắc trên. Cần phải “coi mọi người thân cận không trừ ai như cái tôi khác của ḿnh, trong đó trước hết phải xét tới đời sống của họ và các phương tiện cần thiết để sống xứng với phẩm giá”247. Mọi chương tŕnh chính trị, kinh tế, xă hội, khoa học và văn hoá đều phải được soi sáng từ ư thức về sự ưu việt của từng con người vượt trên cả xă hội248.

133. Bởi đó, không bao giờ người ta được lèo lái con người vào những mục tiêu xa lạ với sự phát triển của con người, một sự phát triển chỉ có thể hoàn thành mỹ măn trong Thiên Chúa và trong kế hoạch cứu độ của Ngài: thật vậy, trong nội tại của ḿnh, con người vượt lên trên vũ trụ và là thụ tạo duy nhất được Thiên Chúa muốn có v́ chính nó249. Chính v́ lư do đó, không được hạn chế một cách bất công đối với sự sống của con người, sự phát triển tư duy của con người, tiện ích của con người hay những người tham gia vào những hoạt động cá nhân và xă hội của con người khi họ sử dụng quyền hạn và tự do của ḿnh. 

Không thể lấy con người làm phương tiện để thực hiện các dự án kinh tế, xă hội hay chính trị, những dự án do một chính quyền nào đó áp đặt, kể cả khi nhân danh một sự tiến bộ của một cộng đồng dân sự nói chung hay của những người khác, bất kể đó là sự tiến bộ trong hiện tại hay trong tương lai. Bởi đó, chính quyền cần cẩn thận theo dơi để những hạn chế đối với tự do hay một gánh nặng áp đặt trên một hoạt động nào đó của con người không bao giờ làm phương hại tới phẩm giá con người, có như thế mới bảo đảm cho các quyền của con người được thực thi cách hữu hiệu. Tất cả những điều này một lần nữa đều dựa trên quan điểm coi con người là một ngôi vị, tức là một chủ thể tích cực và có trách nhiệm về quá tŕnh tăng trưởng của chính ḿnh, cùng với cộng đồng mà ḿnh là thành viên.

134. Những thay đổi đích thực của xă hội chỉ bền vững và hữu hiệu bao lâu chúng đặt nền tảng trên những thay đổi kiên quyết trong cách sống của con người. Người ta sẽ không bao giờ có thể làm cho đời sống xă hội được phù hợp với luân lư nếu không khởi sự từ con người và không lấy con người làm điểm tham khảo: thật vậy, “sống có luân lư là làm chứng cho phẩm giá của con người”250. Rơ ràng nhiệm vụ của con người là phải phát triển các thái độ luân lư, là những thái độ căn bản đối với bất cứ xă hội nào thật sự muốn trở nên nhân bản (công bằng, liêm khiết, trung thực…), đó cũng là những thái độ mà đơn giản là không thể cứ chờ đợi nơi người khác hay cứ uỷ thác cho các cơ quan. Nhiệm vụ của hết mọi người, đặc biệt là của những người đang nắm giữ các trách nhiệm về chính trị, tư pháp hay chuyên môn, là phải trở thành người đánh thức lương tâm xă hội và là người đầu tiên minh chứng cho người khác thấy các điều kiện xă hội dân sự th́ xứng đáng với con người.

C. SỰ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI

a. Giá trị và giới hạn của tự do

135. Con người chỉ có thể hướng đến điều tốt trong tự do, đó là ơn mà Chúa đă ban cho con người như một trong những dấu hiệu cao quư nhất cho biết con người giống Thiên Chúa251. “V́ Thiên Chúa muốn con người cứ sống ‘dưới sự kiểm soát theo những quyết định của chính con người’ (Hc 15,14) để con người có thể t́m kiếm Đấng Tạo Hoá một cách tự nhiên và tự do khám phá ra sự hoàn thiện tuyệt vời nhờ trung thành với Ngài. Thế nên, chính phẩm giá con người buộc con người phải hành động phù hợp với sự lựa chọn có hiểu biết và tự do, nghĩa là được thúc đẩy và hướng dẫn một cách rất riêng tư từ bên trong, chứ không do sự thôi thúc của bản năng mù quáng hay bởi áp lực hoàn toàn bên ngoài”252.

Con người có lư khi trân trọng tự do và say mê theo đuổi nó: cũng có lư khi ao ước và khi phải tổ chức cũng như hướng dẫn đời sống cá nhân và xă hội của ḿnh theo sáng kiến riêng, đồng thời dám chịu trách nhiệm về việc đó253. Thật vậy, tự do không những giúp con người sửa chữa t́nh trạng của sự việc bên ngoài ḿnh thế nào cho đúng, mà c̣n quyết định sự phát triển của con người thông qua những lựa chọn phù hợp với điều tốt thật sự254. Có như thế, con người mới sinh ra ḿnh, mới là cha của chính ḿnh255, mới xây dựng trật tự xă hội được256.

136. Tự do không phải là một điều ǵ ngược với sự lệ thuộc vào Thiên Chúa của con người, trong tư cách là một thụ tạo257. Mạc khải dạy rằng quyền quyết định điều tốt hay xấu không thuộc về con người, mà chỉ thuộc về Thiên Chúa (x. St 2,16-17). “Con người chắc chắn có tự do bao lâu con người hiểu biết và chấp nhận giới răn của Chúa. Con người cũng có một sự tự do hết sức rộng lớn v́ con người được phép ăn ‘bất cứ cây nào trong vườn’. Nhưng tự do của con người không phải là tự do vô hạn: nó phải dừng lại trước ‘cây biết lành biết dữ’, v́ con người được mời gọi để biết chấp nhận luật luân lư do Thiên Chúa ban ra. Thật vậy, sự tự do của con người chỉ được thực hiện trọn vẹn và đầy đủ thật sự khi con người biết chấp nhận luật đó”258.

137. Muốn thực hành đúng đắn sự tự do cá nhân, con người cần có những điều kiện đặc biệt liên quan đến trật tự kinh tế, xă hội, pháp lư, chính trị và văn hoá, là những điều kiện rất “hay bị coi thường hoặc vi phạm. Những t́nh trạng mù quáng và bất công như thế sẽ làm hại tới trật tự luân lư, lôi kéo cả người mạnh lẫn kẻ yếu vào ṿng cám dỗ phạm tội chống lại đức bác ái. Khi đi trệch khỏi luật luân lư, con người làm hại chính sự tự do của ḿnh, trở thành tù nhân của chính ḿnh, phá hỏng t́nh thân hữu với tha nhân và chống lại sự thật của Thiên Chúa”259. Việc loại trừ bất công làm thăng tiến tự do và phẩm giá con người: Tuy nhiên, “điều trước tiên cần làm là vận dụng các khả năng tinh thần và luân lư của cá nhân, cũng như nhắc nhở nhu cầu thường xuyên của con người là phải hoán cải nội tâm, nếu muốn thực hiện những sự thay đổi kinh tế và xă hội thực sự phục vụ con người”260.

b. Tự do liên kết với sự thật và luật tự nhiên

138. Khi thực hành tự do, con người thực hiện những hành vi tốt về mặt luân lư, có giá trị xây dựng con người và xă hội, nếu con người biết tuân theo sự thật, nghĩa là không tự coi ḿnh là tạo hoá và là chủ nhân tuyệt đối của sự thật hay các chuẩn mực đạo đức261. Thật vậy, tự do không “lấy ḿnh làm nguồn gốc tuyệt đối và vô điều kiện…, nhưng nguồn gốc của nó là cuộc sống trong đó tự do được định vị và thể hiện để cùng lúc vừa là giới hạn vừa là khả năng cho tự do hoạt động. Chúng ta có tự do của con người trong tư cách là các thụ tạo; đó là tự do được ban cho như một quà tặng, con người đón nhận tự do như nhận một hạt giống mà ḿnh có bổn phận phải gieo trồng với tinh thần trách nhiệm”262. C̣n nếu ngược lại th́ tự do sẽ chết, đồng thời huỷ hoại con người và xă hội263.

139. Sự thật liên quan đến điều tốt và điều xấu được nh́n nhận một cách thực tiễn và cụ thể dựa vào phán đoán của lương tâm, sự thật này đưa con người tới chỗ sẵn sàng chịu trách nhiệm về điều tốt đă làm và điều xấu đă phạm. “Bởi đó, khi lương tâm đưa ra lời phán đoán thực tiễn, buộc con người phải thực hiện một hành vi đă quy định, người ta thấy giữa tự do và sự thật rơ ràng có tương quan với nhau. Chính v́ lư do này mà lương tâm biểu lộ ḿnh khi đưa ra những lời “phán đoán”, phản ánh sự thật về điều hay lẽ phải, chứ không phải khi có những “quyết định” vơ đoán. Sự chín chắn và trách nhiệm của những phán đoán ấy - do một cá nhân là chủ thể đă nói ra hay đă thực hiện - không được đánh giá bởi việc lương tâm có được tự do đối với sự thật khách quan hay không, dù chủ thể được cho là tự ḿnh quyết định, mà tuỳ thuộc vào việc con người có kiên tŕ t́m kiếm sự thật và có để cho sự thật đó hướng dẫn ḿnh khi hành động hay không”264.

140. Khi hành xử tự do là chúng ta gián tiếp liên hệ đến một luật luân lư tự nhiên, có tính phổ quát, đi trước và liên kết hết mọi quyền lợi và nghĩa vụ của con người265. Luật tự nhiên “không ǵ khác hơn là chính ánh sáng của trí khôn được Thiên Chúa phú bẩm trong chúng ta. Nhờ đó, chúng ta biết phải làm ǵ và phải tránh ǵ. Thiên Chúa đă ban ánh sáng hay luật này cho thụ tạo”266. Luật này tham dự vào luật vĩnh viễn của Thiên Chúa, được đồng hoá với chính Thiên Chúa267. Luật này được gọi là luật “tự nhiên” v́ lư trí ban bố luật này là lư trí của bản tính con người. Nó phổ quát và liên hệ với hết mọi người bao lâu nó được thiết lập bởi lư trí. Những mệnh lệnh chính của luật này, cũng là luật Thiên Chúa và luật tự nhiên, được tŕnh bày trong Mười Điều Răn, cho biết những chuẩn mực tiên quyết và thiết yếu điều khiển đời sống luân lư268. Tiêu điểm của đời sống luân lư chính là hành vi hướng lên Thiên Chúa và phục tùng Thiên Chúa, là nguồn phát sinh và là Đấng phân xử tất cả những ǵ là tốt, đồng thời là hành vi nh́n nhận mọi người đều b́nh đẳng với ḿnh. Luật tự nhiên phản ánh phẩm giá con người và đặt nền tảng cho các nghĩa vụ căn bản của con người269.

141. Trong t́nh trạng có nhiều nền văn hoá khác nhau như hiện nay, luật tự nhiên chính là điểm liên kết mọi dân tộc, thống nhất các nguyên tắc chung. Dù khi áp dụng các luật ấy chúng ta cần phải thích nghi cho phù hợp với các điều kiện sống khác nhau theo nơi chốn, thời gian và hoàn cảnh270, nhưng luật tự nhiên vẫn bất biến “dưới làn sóng các tư tưởng và phong tục tập quán khác nhau, đồng thời hỗ trợ sự tiến triển của các tư tưởng và phong tục tập quán ấy… Ngay cả khi người ta chối bỏ các nguyên tắc của luật tự nhiên, luật tự nhiên vẫn không thể bị tiêu diệt hay bị khai trừ khỏi tâm hồn con người. Nó luôn luôn tái hiện trong đời sống các cá nhân và xă hội”271.

Tuy nhiên, các mệnh lệnh của luật tự nhiên không được mọi người nhận thức rơ ràng và ngay từ đầu. Các sự thật tôn giáo và luân lư chỉ có thể được nhận thức “bởi mọi người một cách dễ dàng, chắc chắn và không trộn lẫn với sai lầm”272 là nhờ sự trợ giúp của ơn Chúa và Mạc khải. Luật tự nhiên là nền tảng mà Chúa dọn sẵn để chúng ta tiếp nhận luật mạc khải và ân sủng, trong việc phối hợp hài hoà với hoạt động của Thánh Thần273.

142. Luật tự nhiên, cũng là luật Chúa, không thể bị huỷ bỏ bởi tội con người274. Luật tự nhiên là nền tảng luân lư thiết yếu để con người xây dựng cộng đồng nhân loại và thiết lập dân luật, tức là những kết luận có tính cụ thể và phụ thuộc rút ra từ những nguyên tắc của luật tự nhiên275. Nếu nhận thức của con người về tính phổ quát của luật luân lư trở nên mù mờ th́ người ta không thể nào xây dựng sự hiệp thông bền bỉ và chân chính với người khác, v́ lúc đó không có sự tương ứng giữa sự thật và điều tốt, “dù có tội hay không, hành vi của chúng ta cũng làm tổn thương sự hiệp thông giữa người với người, và làm hại mỗi người”276. Thật vậy, chỉ khi nào ăn rễ sâu vào bản tính chung, sự tự do mới làm con người trở nên có tinh thần trách nhiệm và mới giúp con người biện minh được đời sống luân lư công khai của ḿnh. Ai tự xưng là chuẩn mực duy nhất để đo lường các thực tại và sự thật, kẻ đó không thể sống b́nh an trong xă hội với đồng loại và không thể nào hợp tác với họ277.

143. Sự tự do có hướng chiều một cách bí ẩn ngược lại thái độ cởi mở trước sự thật và điều tốt của con người, và thường chuộng điều xấu hơn, thích khép kín cách ích kỷ, muốn nâng ḿnh cao ngang tầm thần thánh, để tự tạo ra điều tốt và điều xấu: “Dù được dựng nên bởi Thiên Chúa trong t́nh trạng thánh thiện, nhưng ngay từ đầu lịch sử, con người đă lạm dụng tự do của ḿnh, với sự khiêu khích thúc giục của thần dữ. Con người tự đặt ḿnh chống lại Thiên Chúa và t́m cách đạt được mục đích đời ḿnh bên ngoài Thiên Chúa… Thường xuyên từ chối nh́n nhận Thiên Chúa là căn nguyên của ḿnh, con người cũng cắt đứt quan hệ với mục tiêu tối hậu của ḿnh, cũng như với chính ḿnh, với người khác, và với các thụ tạo”278. Bởi đó, cần phải giải phóng sự tự do của con người. Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Kitô đă giải thoát con người khỏi sự tự ái lệch lạc279, là nguồn khiến con người khinh bỉ người khác và làm cho mọi mối quan hệ của con người mang sắc thái thống trị người khác. Đức Kitô cho chúng ta thấy sự tự do chỉ trở nên trọn vẹn khi biết hiến dâng bản thân ḿnh280. Nhờ biết hy sinh trên thánh giá, Đức Giêsu đă đưa con người trở về hiệp thông lại với Thiên Chúa và tha nhân.

D. PHẨM GIÁ B̀NH ĐẲNG CỦA MỌI NGƯỜI

144. “Thiên Chúa tỏ ra không thiên vị ai” (Cv 10,34; x. Rm 2,11; Gl 2,6; Ep 6,9), v́ mọi người đều có cùng phẩm giá của những thụ tạo được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa281. Việc Nhập thể của Con Thiên Chúa cho thấy mọi người đều b́nh đẳng về phẩm giá: “Không có Do Thái hay Hy Lạp, không có nô lệ hay tự do, không có nam hay nữ, v́ tất cả anh em đều là một trong Đức Kitô Giêsu” (Gl 3,28; x. Rm 10,12; 1 Cr 12,13; Cl 3,11).

V́ vinh quang của Thiên Chúa đă sáng lên phần nào trên khuôn mặt của mỗi người, nên phẩm giá của mỗi người trước mặt Chúa chính là nền tảng đem lại phẩm giá của con người trước mặt người khác282. Ngoài ra, đó cũng là nền tảng cuối cùng đưa tới sự b́nh đẳng và t́nh huynh đệ căn bản giữa mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia, giới tính, nguồn gốc, văn hoá hay giai cấp.

145. Chỉ khi nào nh́n nhận phẩm giá con người, cá nhân mới có thể phát triển riêng cho ḿnh và chung với người khác (x. Gc 2,1-9). Để thúc đẩy sự phát triển này, cần đặc biệt giúp đỡ những người yếu kém nhất, bảo đảm cho cả nam lẫn nữ có những điều kiện phát triển đồng đều, cũng như sự b́nh đẳng khách quan giữa các giai cấp xă hội khác nhau trước luật pháp283.

Trong các mối quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia, những điều kiện tiên quyết là các dân tộc và quốc gia phải được b́nh đẳng và coi trọng như nhau th́ cộng đồng quốc tế mới phát triển đích thực284. Về phương diện này, dù có tiến hành thế nào cũng không được quên rằng hiện nay vẫn c̣n nhiều điều bất b́nh đẳng và nhiều h́nh thức lệ thuộc nhau285.

Bên cạnh việc nh́n nhận cách đồng đều phẩm giá của mỗi người và mỗi dân tộc, cũng cần phải nhận thức rằng người ta chỉ có thể bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người nếu việc ấy được thực hiện bởi cả cộng đồng và bởi toàn thể nhân loại. Chỉ khi hành động qua lại giữa các cá nhân và giữa các dân tộc, thật sự nhắm tới ích lợi của hết mọi người, th́ t́nh huynh đệ đại đồng đích thực mới có được286; bằng không tất cả chúng ta sẽ nghèo nàn hơn do các điều kiện bất b́nh đẳng nghiêm trọng vẫn c̣n.

146. Dù phái “nam” và phái “nữ” là sự phân biệt hai cá thể có cùng phẩm giá, nhưng đó không phải là sự b́nh đẳng tĩnh, v́ sự cá biệt của nữ giới khác với sự cá biệt của nam giới, sự khác biệt trong b́nh đẳng như thế sẽ làm phong phú và rất cần để giúp cuộc sống xă hội được hài hoà: “Tạo điều kiện để phụ nữ có mặt cách hợp lư trong Giáo Hội và xă hội chính là một sự quan tâm thấu đáo và sâu sắc hơn về nền tảng nhân học làm nên nam tính và nữ tính trong con người, hầu minh định bản sắc riêng của người phụ nữ trong tương quan với nam giới, tức là khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, không những trong các vai tṛ phải nắm giữ và chức năng phải thi hành, mà sâu xa hơn, cả trong cơ cấu và ư nghĩa làm cho người phụ nữ trở nên đúng là một ngôi vị”287.

147. Người nữ là phần bổ sung cho người nam, cũng như người nam là phần bổ sung cho người nữ: người nam và người nữ bổ túc cho nhau, không chỉ về mặt thể lư và tâm lư, mà cả về mặt hữu thể. Chính v́ tính cách có hai mặt “nam” và “nữ” mà hữu thể con người mới trở thành một thực tại đầy đủ. Con người là “thể thống nhất gồm hai mặt”288, hay nói cách khác, là mối quan hệ “hai trong một”, nhờ đó mỗi người có thể trải nghiệm mối quan hệ liên vị và hỗ tương, vừa như một quà tặng vừa như một sứ mạng: “Thiên Chúa đă giao cho ‘thể thống nhất gồm hai mặt’ này không những việc sinh sản và đời sống gia đ́nh, mà c̣n cả việc kiến tạo lịch sử”289. “Người nữ là ‘trợ tá’ cho người nam, cũng như người nam là ‘trợ tá’ cho người nữ!”290: khi người nam và người nữ gặp nhau, th́ nhận thức thống nhất của con người được h́nh thành, không dựa trên logic tập trung vào ḿnh và khẳng định ḿnh, mà là dựa trên logic yêu thương và liên đới.

148. Những người thiếu khả năng vẫn là những chủ thể con người trọn vẹn, với những quyền lợi và nghĩa vụ: “Dù có những giới hạn và đau khổ tác động lên thân thể và các khả năng của ḿnh, họ vẫn cho thấy ḿnh có đầy đủ phẩm giá và sự cao cả của con người”291. V́ người khuyết tật vẫn là những chủ thể có đầy đủ quyền hạn, nên cần phải giúp họ tham gia vào đời sống gia đ́nh và xă hội một cách đầy đủ về mọi chiều hướng ở bất cứ cấp độ nào họ có thể tham gia và tuỳ theo khả năng của họ.

Cần phải đẩy mạnh các quyền lợi của những người khuyết tật bằng những biện pháp hữu hiệu và thích đáng: “Thật không xứng đáng chút nào với con người, thậm chí c̣n phủ nhận đặc tính chung của con người, khi chỉ nhận những người có đầy đủ chức năng vào sinh hoạt cộng đồng và ngành nghề. Làm như thế là kỳ thị một cách nghiêm trọng, phân biệt người mạnh khoẻ với người đau yếu”292. Cần phải chú ư nhiều không những tới các điều kiện thể lư và tâm lư trong lao động, tới việc trả lương công bằng, tới khả năng thăng tiến và việc loại bỏ các trở ngại, mà c̣n cần chú ư tới những khía cạnh t́nh cảm và giới tính của những người khuyết tật: “Họ cũng cần yêu và được yêu, cần sự dịu dàng, gần gũi và thân mật”293, tuỳ theo khả năng của họ, đồng thời vẫn tôn trọng trật tự luân lư, là trật tự chung cho cả người lành lặn lẫn người khuyết tật.

E. BẢN TÍNH XĂ HỘI CỦA CON NGƯỜI

149. Tự bản chất, con người là một hữu thể xă hội294 v́ Thiên Chúa – Đấng tạo dựng con người – muốn như thế295. Thật vậy, bản tính con người biểu lộ ra như bản tính của một hữu thể t́m cách đáp ứng các nhu cầu của ḿnh. Việc biểu lộ này dựa vào chủ thể tính có tương quan, nghĩa là theo cách của một hữu thể tự do có trách nhiệm, vừa nh́n nhận nhu cầu phải tham gia cộng tác với các hữu thể khác, vừa có khả năng hiệp thông với họ cả trong hiểu biết lẫn yêu thương. “Một xă hội là một tập thể gồm những con người sống liên kết với nhau một cách sống động do có chung một nguyên lư thống nhất, vượt lên trên mỗi người. Là một tập hợp vừa hữu h́nh, vừa thiêng liêng, xă hội tồn tại qua thời gian: vừa thu thập quá khứ vừa chuẩn bị tương lai”296

Bởi đó, cần phải nhấn mạnh rằng đời sống cộng đồng là một đặc điểm tự nhiên phân biệt con người với các thụ tạo khác trên trần gian. Chính hoạt động xă hội mang trong ḿnh một dấu hiệu đặc biệt về con người và nhân loại, đó là con người luôn làm việc trong một cộng đồng gồm nhiều người: đây chính là dấu hiệu xác định các đặc điểm bên trong của con người, và theo một nghĩa nào đó, đây chính là cái làm nên bản tính của con người297. Nh́n trong ánh sáng đức tin, đặc điểm đó c̣n có một ư nghĩa sâu xa và bền vững hơn. Được dựng nên theo h́nh ảnh và giống Thiên Chúa (x. St 1,26), và được dựng nên hữu h́nh trong vũ trụ để có thể sống thành xă hội (x. St 2,20.23), đồng thời để làm chủ trái đất (x. St 1,26.28-30), con người được mời gọi ngay từ đầu hướng đến đời sống trong xă hội: “Thiên Chúa không tạo dựng con người như một ‘hữu thể cô độc’, nhưng Ngài muốn tạo con người thành một ‘hữu thể xă hội’. Bởi đó, đời sống xă hội không phải là cái ǵ nằm ngoài con người: con người chỉ có thể tăng trưởng và thực hiện ơn gọi của ḿnh trong tương quan với người khác”298

150. Bản tính xă hội của con người không tự động đưa họ tới chỗ hiệp thông với nhau, dâng hiến bản thân cho nhau. V́ tự phụ và ích kỷ, con người khám phá nơi bản thân ḿnh có nhiều mầm mống thích cư xử phi xă hội, thúc giục họ tới chỗ tự giam ḿnh trong cá tính riêng của ḿnh và t́m cách thống trị người khác299. Xă hội nào muốn xứng với tên gọi của ḿnh đều phải tin chắc rằng ḿnh sẽ là xă hội đích thực khi tất cả mọi thành phần trong xă hội có thể theo đuổi điều tốt cho ḿnh và cho người khác, nhờ nhận biết đâu là điều tốt. Chính v́ yêu quư điều có ích cho ḿnh và cho người khác mà người ta quy tụ thành những tập thể bền vững nhằm t́m kiếm ích lợi chung. Các xă hội loài người khác nhau cũng phải tạo ra nơi ḿnh những quan hệ liên đới, liên lạc và cộng tác với nhau để phục vụ con người và công ích300.

151. Bản tính xă hội của con người không chỉ có một h́nh một dạng, nhưng được bộc lộ ra bằng nhiều cách. Thật vậy, công ích có được là tuỳ ở chỗ sự đa nguyên về xă hội có lành mạnh hay không. Mọi thành phần khác nhau của xă hội đều được mời gọi xây dựng một tập thể thống nhất và hoà hợp, trong đó mỗi thành phần đều có thể duy tŕ và phát triển những đặc tính riêng và sự tự trị của ḿnh. Một số thành phần – như gia đ́nh, cộng đồng dân sự và cộng đồng tôn giáo – đáp ứng trực tiếp hơn bản tính sâu xa của con người, nhưng cũng có những thành phần khác xuất hiện dựa trên căn bản tự nguyện nhiều hơn. “Để đẩy mạnh sự tham gia càng nhiều người càng tốt vào đời sống xă hội, cần khuyến khích thành lập các hiệp hội và các tổ chức tự nguyện ‘trên cấp quốc gia và quốc tế, có liên quan tới các mục tiêu kinh tế và xă hội, các hoạt động văn hoá và giải trí, thể thao, chính trị và các ngành nghề khác’. Việc xă hội hoá này cũng cho thấy khuynh hướng tự nhiên của con người, là nhằm thực hiện các mục tiêu mà các cá nhân tự ḿnh không làm được. Điều này sẽ giúp phát triển các đức tính của con người, nhất là khả năng sáng tạo và ư thức trách nhiệm, đồng thời giúp bảo đảm các quyền lợi của con người”301.

IV. NHÂN QUYỀN

a. Giá trị của nhân quyền

152. Phong trào tiến tới chỗ xác định và công bố các quyền của con người là một trong những cố gắng quan trọng nhất nhằm đáp ứng cách hữu hiệu những đ̣i hỏi tất yếu của phẩm giá con người302. Giáo Hội coi các quyền này là cơ hội hết sức đặc biệt mà thời đại hôm nay đem lại, để phẩm giá con người được nh́n nhận cách hiệu quả hơn và phát huy khắp nơi như một đặc điểm được Thiên Chúa Tạo Hoá khắc ghi nơi các thụ tạo303. Huấn Quyền Giáo Hội không ngừng ghi nhận giá trị tích cực của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được Liên Hiệp Quốc chấp nhận ngày 10-12-1948, và được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II coi như “một cột mốc thực sự trên con đường tiến bộ đạo đức của nhân loại”304.

153. Thật ra, nguồn gốc của các quyền con người nằm ngay trong chính phẩm giá của mỗi một con người305. Phẩm giá này, tồn tại bên trong đời sống con người và bằng nhau trong mỗi một người, đă được nhận thức và lĩnh hội trước tiên là nhờ lư trí. Nền tảng tự nhiên của các quyền này càng trở nên vững chắc hơn khi, nhờ ánh sáng siêu nhiên, người ta nh́n nhận rằng phẩm giá của con người, sau khi được Chúa trao ban và bị thương tổn sâu xa bởi tội, đă được Đức Giêsu Kitô đón nhận và cứu chuộc qua sự nhập thể, qua cái chết và sự sống lại của Người306.

Nguồn gốc sau cùng của các quyền con người không phải ở trong ư muốn thuần tuư của con người307, trong thực thể quốc gia hay chính quyền, nhưng là ở trong chính con người và trong chính Thiên Chúa Tạo Hoá. Những quyền này mang những đặc tính “phổ quát, bất khả xâm phạm, bất khả nhượng”308. Phổ quát, v́ chúng hiện diện nơi hết mọi người, bất kể thời gian, địa điểm hay chủ thể. Bất khả xâm phạm, bao lâu “chúng tồn tại trong con người và trong phẩm giá con người”309 và v́ “thật vô ích khi công bố các quyền mà đồng thời không làm ǵ để bảo đảm cho chúng được tôn trọng bởi mọi người, mọi nơi và v́ mọi người”310. Bất khả nhượng, bao lâu “không ai có thể tước đoạt những quyền ấy khỏi người khác một cách chính đáng, bất kể người đó là ai, v́ làm như thế là xâm phạm tới bản tính của chính họ”311.

154. Phải bảo vệ các quyền con người không chỉ một cách riêng lẻ mà c̣n như một tổng thể bảo vệ chỉ một phần các quyền này thôi sẽ là gián tiếp không nh́n nhận chúng. Các quyền ấy tương ứng với những đ̣i hỏi của phẩm giá con người, và trên hết, chúng gián tiếp thoả măn các nhu cầu căn bản của con người trong lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần. “Những quyền này đáp ứng cho mỗi giai đoạn của đời sống và cho mỗi t́nh huống chính trị, xă hội, kinh tế và văn hoá. Gộp chung lại, chúng làm thành một tổng hợp thống nhất, rơ ràng là nhằm phát huy ích lợi của cả cá nhân lẫn xă hội về mọi mặt… Phát huy đầy đủ mỗi loại nhân quyền là cách bảo đảm cho mỗi một quyền được tôn trọng trọn vẹn”312. Phổ quát và không thể phân chia là những đặc tính riêng của các quyền con người: đó là “hai nguyên tắc vừa mang tính hướng dẫn vừa đ̣i hỏi các quyền ấy phải được ăn sâu vào mỗi nền văn hoá, các quyền ấy phải có chỗ đứng ngày càng vững vàng hơn trong pháp chế, có thế chúng mới bảo đảm được tuân thủ trọn vẹn”313.

b. Xác định các quyền cách riêng rẽ

155. Giáo huấn của Chân phúc Giáo hoàng Gioan XXIII314, của Công đồng Vatican II315, và của Đức Giáo hoàng Phaolô VI316 đă cống hiến cho chúng ta vô số chỉ dẫn để hiểu khái niệm nhân quyền như Huấn Quyền đă hiểu. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II c̣n lập một danh sách các quyền ấy trong Thông điệp Centesimus Annus: “quyền được sống, một phần không thể thiếu trong quyền ấy là quyền của đứa trẻ được lớn lên trong bụng mẹ ngay từ khi thụ thai; quyền được sống trong một gia đ́nh hợp nhất và trong một môi trường luân lư giúp phát triển nhân cách của đứa trẻ; quyền được phát huy trí thông minh, được tự do t́m kiếm và hiểu biết sự thật; quyền được chia sẻ công ăn việc làm để sử dụng các nguồn lực vật chất của trái đất cách khôn ngoan, và quyền được lấy từ việc lao động những phương thế để trợ giúp bản thân và những người lệ thuộc vào ḿnh; và quyền được tự do lập gia đ́nh, quyền có con và dạy dỗ con qua việc thực hiện hành vi tính dục một cách có trách nhiệm. Theo một nghĩa nào đó, nguồn gốc và tổng hợp các quyền này chính là quyền tự do tôn giáo, được hiểu như quyền được sống theo sự thật của đức tin và phù hợp với phẩm giá siêu việt của một con người”317.

Quyền đầu tiên được nêu ra trong danh sách này là quyền được sống, từ khi thụ thai cho tới khi chết một cách tự nhiên318, cũng là điều kiện để có thể thi hành tất cả các quyền khác, và đặc biệt, gián tiếp coi mọi h́nh thức phá thai và làm chết êm ái là bất hợp pháp319. Giáo Hội cũng nhấn mạnh tới giá trị cao cả của quyền tự do tôn giáo: “mọi người phải được miễn không bị một sự cưỡng ép nào từ phía cá nhân hay tập thể xă hội hoặc bất cứ quyền bính nhân loại nào, để không ai bị ép buộc hành động ngược với niềm tin của ḿnh, một cách riêng tư hay công khai, một ḿnh hay cùng với những người khác, trong giới hạn thích đáng”320. Tôn trọng quyền này là dấu chỉ cho biết “con người đă tiến bộ thật sự trong bất cứ chính thể, xă hội, hệ thống hay môi trường nào”321.

c. Quyền lợi và nghĩa vụ

156. Liên kết hết sức chặt chẽ với đề tài quyền lợi là vấn đề nghĩa vụ của con người, điều này cũng đă được nhấn mạnh cách thích đáng trong các lần can thiệp của Huấn Quyền. Sự bổ túc cho nhau giữa quyền lợi và nghĩa vụ – liên kết với nhau một cách hết sức chặt chẽ – đă được nhắc nhở vài lần, nhất là đối với người sở hữu những quyền lợi và nghĩa vụ ấy322. Mối liên kết này cũng có chiều hướng xă hội: “Trong xă hội loài người, quyền của người này là nghĩa vụ cho hết những người khác: cụ thể là nghĩa vụ phải nh́n nhận và tôn trọng quyền ấy”323. Huấn Quyền đă lưu ư sự mâu thuẫn nội tại khi khẳng định các quyền lợi mà không nh́n nhận các trách nhiệm tương ứng. “Bởi đó, những ai đ̣i hỏi quyền lợi mà quên hay bỏ qua không thi hành các nghĩa vụ của ḿnh là những người tay này xây dựng nhưng lại tay kia phá hoại”324.

d. Quyền lợi của các dân tộc và các quốc gia

157. Phạm vi nhân quyền được mở rộng ra để bao gồm cả quyền lợi của các dân tộc và các quốc gia325: thật vậy, “điều ǵ đúng với cá nhân th́ cũng đúng với các dân tộc”326. Huấn Quyền đă chỉ ra rằng luật quốc tế “dựa trên nguyên tắc phải tôn trọng một cách b́nh đẳng đối với các quốc gia, đối với quyền tự quyết của mỗi dân tộc và đối với sự hợp tác tự do nhằm đạt được công ích cao hơn cho cả nhân loại”327.

Hoà b́nh được xây dựng không chỉ dựa trên sự tôn trọng các quyền con người, mà c̣n trên sự tôn trọng các quyền của dân tộc, nhất là quyền độc lập328.

Các quyền của các quốc gia không là ǵ khác hơn là “các quyền con người được vun đắp ở cấp đời sống cộng đồng”329. Một quốc gia có “quyền căn bản để tồn tại”, quyền “có ngôn ngữ và văn hoá riêng, để qua đó dân tộc thể hiện và phát huy… ‘chủ quyền’ tinh thần căn bản của ḿnh”, quyền “định hướng cuộc sống của ḿnh theo những truyền thống riêng của quốc gia, dĩ nhiên khai trừ mọi lạm dụng các quyền căn bản của con người và đặc biệt sự đàn áp các người thiểu số”, quyền “xây dựng tương lai ḿnh bằng cách cung cấp một nền giáo dục chính đáng cho thế hệ trẻ”330. Trật tự quốc tế đ̣i phải có sự quân b́nh giữa tính đặc thù và phổ quát, mà mỗi quốc gia được mời gọi thể hiện ra, v́ nghĩa vụ trên hết của các quốc gia là sống hoà b́nh, tôn trọng và liên đới với các quốc gia khác.

e. Lấp đầy khoảng cách giữa chữ viết và tinh thần

158. Việc công bố long trọng các quyền con người lại mâu thuẫn với một thực tế rất đáng buồn là các quyền ấy đă bị xâm phạm, với đủ loại chiến tranh và bạo lực, nhất là những cuộc diệt chủng và lưu đày tập thể, việc mở rộng gần như trên toàn thế giới những h́nh thức chưa từng thấy của sự nô lệ như buôn người, bắt trẻ em làm lính, bóc lột người lao động, buôn bán ma tuư trái phép, măi dâm. “Ngay tại những nước có chính phủ theo thể thức dân chủ, những quyền này không phải lúc nào cũng được tôn trọng”331.

Tiếc thay, có một khoảng cách giữa “chữ viết” và “tinh thần” của nhân quyền332, mà chúng ta có thể lần ra nguyên do là v́ người ta chỉ nh́n nhận các quyền này một cách hết sức h́nh thức. Khi lưu tâm đến đặc ân mà Tin Mừng dành cho người nghèo, học thuyết Xă hội Công giáo luôn nhắc đi nhắc lại rằng “những ai may mắn hơn nên khước từ một số quyền lợi của ḿnh để lấy của cải ḿnh đang có phục vụ người khác một cách rộng răi”; và việc đ̣i b́nh đẳng một cách gắt gao quá “có thể tạo ra chủ nghĩa cá nhân, trong đó ai cũng đ̣i hỏi quyền lợi cho riêng ḿnh mà không thèm chịu trách nhiệm về công ích”333.

159. Giáo Hội, ư thức sứ mạng của ḿnh tuy chính yếu là tôn giáo cũng bao gồm việc bảo vệ và phát huy các quyền con người334, Giáo Hội “đánh giá rất cao phong trào rất mạnh hiện nay là đâu đâu cũng cổ vũ các quyền con người”335. Giáo Hội cảm nghiệm sâu sắc nhu cầu phải tôn trọng công lư336 và các quyền con người337 ngay trong hàng ngũ Giáo Hội.

Giáo Hội dấn thân trong công tác mục vụ này theo hai hướng: bằng cách công bố những nền tảng Kitô giáo của nhân quyền và bằng cách tố cáo những sự vi phạm các quyền này338. Dù sao, “công bố bao giờ cũng quan trọng hơn là tố cáo, và không thể tố cáo mà quên công bố, v́ có như thế việc tố cáo mới chắc chắn và có động cơ cao cả”339. Để đạt hiệu quả cao hơn, việc dấn thân này nên có sự cộng tác đại kết, đối thoại với các tôn giáo, tiếp xúc thích đáng với các tổ chức khác, bất luận thuộc chính phủ hay phi chính phủ, ở cấp quốc gia hay quốc tế. Trên hết, Giáo Hội cậy dựa vào sự giúp đỡ của Chúa và của Thánh Thần Ngài, v́ khi được đổ vào tâm hồn con người, Thánh Thần ấy chính là bảo đảm chắc chắn nhất cho công bằng và nhân quyền được tôn trọng, cũng như góp phần đem lại hoà b́nh. “Đẩy mạnh công lư và hoà b́nh, đưa ánh sáng và men Tin Mừng thâm nhập mọi lĩnh vực của xă hội con người, đó luôn luôn là mục tiêu Giáo Hội ra sức nhắm tới khi thi hành mệnh lệnh của Chúa”340.

 

CHƯƠNG BỐN

CÁC NGUYÊN TẮC

CỦA HỌC THUYẾT XĂ HỘI CÔNG GIÁO

I. Ư NGHĨA VÀ SỰ THỐNG NHẤT

160. Những nguyên tắc trường tồn của Học thuyết Xă hội Công giáo341 chính là trọng tâm của giáo huấn xă hội Công giáo. Đó là những nguyên tắc: phẩm giá con người, đă được đề cập trong chương trước, đây là nền tảng của tất cả các nguyên tắc khác đồng thời là nội dung của Học thuyết Xă hội Công giáo342; công ích; bổ trợ; và liên đới. Những nguyên tắc này, diễn tả toàn bộ sự thật về con người theo sự nhận biết của lư trí và đức tin, được khai sinh từ “cuộc gặp gỡ giữa thông điệp Tin Mừng và những đ̣i hỏi của Tin Mừng được tóm tắt trong giới răn tối thượng về ḷng mến Chúa và yêu người trong công lư, với những vấn đề phát sinh từ đời sống xă hội”343. Trải qua ḍng lịch sử và được soi sáng bởi Chúa Thánh Thần, Giáo Hội đă khôn ngoan suy tư ngay từ trong khuôn khổ truyền thống đức tin của ḿnh, để có thể cung cấp một nền tảng và một h́nh thù chính xác hơn cho những nguyên tắc ấy, lần lượt giải thích những nguyên tắc ấy để đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thời đại và những sự phát triển liên tục của đời sống xă hội.

161. Đây là những nguyên tắc mang tính tổng quát và căn bản v́ chúng liên quan tới xă hội trong toàn bộ thực tại của nó: liên quan đến các mối quan hệ, từ những quan hệ gần gũi và trực tiếp tới những quan hệ bị chi phối bởi chính trị, kinh tế và luật pháp hay những quan hệ giữa các cộng đồng và các tập thể, hoặc những quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia. Chính v́ những tương quan này luôn tồn tại trong thời gian mang ư nghĩa phổ quát, nên chúng được Giáo Hội giới thiệu như những thông số đầu tiên và căn bản để mọi người phải tham khảo hầu giải thích và đánh giá các hiện tượng xă hội, mà đây chính là nguồn cần thiết để rút ra những tiêu chuẩn giúp phân biệt và định hướng cho những sự tương tác trong xă hội thuộc mọi lĩnh vực.

162. Các nguyên tắc của Học thuyết Xă hội Công giáo phải được đánh giá trong thể thống nhất, trong tính quan hệ và liên kết mạch lạc với nhau của chúng. Sở dĩ có đ̣i hỏi trên là v́ đích thân Giáo Hội đă gán cho học thuyết xă hội của ḿnh ư nghĩa này: đó là coi nó như một tổng hợp giáo lư thống nhất giải thích các thực tại xă hội hiện nay một cách hệ thống344. Nếu có xét riêng rẽ từng nguyên tắc th́ việc này không được dẫn đến việc dùng các nguyên tắc ấy từng phần riêng biệt hay dùng một cách sai lạc; đó là trường hợp khi chúng ta dẫn chứng các nguyên tắc ấy một cách rời rạc và không liên kết mạch lạc với những nguyên tắc khác. Khi hiểu biết một cách sâu xa về mặt lư thuyết, rồi áp dụng cách cụ thể chỉ một trong các nguyên tắc trên thôi, chúng ta sẽ thấy tính chất hỗ tương, bổ túc và liên hệ với nhau giữa các nguyên tắc, như một phần làm nên cơ cấu của các nguyên tắc ấy. Ngoài ra, các nguyên tắc căn bản của Học thuyết Xă hội Công giáo không phải chỉ là một di sản suy tư bền vững, mà c̣n là một phần cốt yếu trong thông điệp Kitô giáo, v́ chúng chỉ cho chúng ta thấy những đường hướng có thể giúp chúng ta xây dựng một đời sống xă hội tốt đẹp, đích thực và mới mẻ345.

163. Nh́n trong toàn thể, các nguyên tắc của học thuyết xă hội chính là sự phát biểu đầu tiên về sự thật của xă hội, mà qua đó mỗi lương tâm được khuyến khích, cũng như được mời gọi cộng tác với các lương tâm khác trong sự thật, trong sự chia sẻ trách nhiệm với mọi người và chịu trách nhiệm về mọi người. Thật vậy, con người không thể né tránh vấn đề tự do và ư nghĩa của đời sống xă hội, v́ xă hội không phải là một thực tại ở bên ngoài hay xa lạ với con người.

Các nguyên tắc này có ư nghĩa luân lư sâu xa v́ chúng liên hệ tới những nền tảng cuối cùng, mang tính cơ cấu của cuộc sống xă hội. Muốn hiểu trọn vẹn các nguyên tắc này, cần hành động phù hợp với những nguyên tắc ấy, đi theo con đường phát triển mà chúng đă vạch ra để có một cuộc sống xứng đáng với con người. Yêu cầu đạo đức nằm trong chính các nguyên tắc xă hội xuất sắc ấy là yêu cầu có liên quan tới cách ứng xử của mỗi cá nhân mà trong đó họ là chủ thể chịu trách nhiệm đầu tiên và quan trọng của đời sống xă hội, bất kể ở cấp độ nào, và đồng thời cũng liên quan tới các định chế được biểu hiện bởi luật pháp, bởi các quy phạm đă trở thành thông lệ và bởi các cấu trúc dân sự, v́ những nhân tố này có thể ảnh hưởng và chi phối các sự lựa chọn của con người trong một thời gian dài. Thật vậy, các nguyên tắc ấy nhắc chúng ta nhớ rằng một xă hội có mặt trong lịch sử là do có nỗ lực liên kết những sự tự do của tất cả những người đang hoạt động trong xă hội ấy, họ đóng góp qua những lựa chọn của ḿnh để xây dựng xă hội hay làm cho nó nghèo đi.

II. NGUYÊN TẮC CÔNG ÍCH

a. Ư nghĩa và những hệ luận đầu tiên

164. Nguyên tắc công ích: mọi khía cạnh trong đời sống xă hội đều phải liên hệ đến công ích, nếu muốn đạt được ư nghĩa trọn vẹn nhất, công ích xuất phát từ chính phẩm giá, sự thống nhất và b́nh đẳng của hết mọi người. Hiểu theo nghĩa ban đầu, và được chấp nhận rộng răi, công ích là “toàn bộ những điều kiện xă hội cho phép con người, tập thể hay cá nhân, đạt tới sự phát triển cách đầy đủ và dễ dàng hơn”346.

Công ích không chỉ đơn giản là tổng số các thiện ích riêng của mỗi người trong một thực thể xă hội. Dù là thuộc về mọi người và mỗi người, công ích vẫn là và măi măi là ích lợi “chung”, v́ nó không thể phân chia được và v́ khi cùng chung như thế người ta mới có thể có được nó, mới phát triển và bảo vệ được hiệu quả của nó, với tầm nh́n hướng về tương lai. Cũng như hành vi luân lư của một người được thực hiện chính khi người ấy làm điều tốt, các hành vi của xă hội cũng chỉ có tầm vóc tương xứng khi chúng đem lại ích lợi chung. Thật vậy, có thể hiểu công ích là khía cạnh xă hội và cộng đồng của luân lư. 

165. Một xă hội mong muốn và có ư định tiếp tục phục vụ con người ở mọi cấp độ là một xă hội phải lấy công ích – tức là ích lợi của hết mọi người và của con người toàn diện347 – làm mục tiêu tiên quyết của ḿnh. Con người không thể t́m được sự phát triển mỹ măn nơi chính bản thân ḿnh, nếu bỏ qua sự kiện là con người hiện hữu “với” người khác và “v́” người khác. Sự thật này không chỉ bắt con người phải sống với người khác ở các cấp độ khác nhau trong đời sống xă hội, mà c̣n bắt con người phải không ngừng t́m kiếm – không chỉ t́m kiếm trong ư tưởng mà cả trong thực tế cụ thể – điều tốt, tức là ư nghĩa và sự thật, được t́m thấy trong hết mọi h́nh thức đang có của đời sống xă hội. Không có tổ chức nào của đời sống xă hội – từ gia đ́nh đến các tập thể xă hội trung gian, các hiệp hội, các tổ chức mang bản chất kinh tế, các thành thị, các khu vực, các quốc gia, cho đến cộng đồng các dân tộc và các quốc gia – có thể tránh né việc t́m kiếm công ích, v́ đó chính là yếu tố làm nên ư nghĩa và là lư do hiện hữu của các tổ chức ấy348.

b. Trách nhiệm của mọi người đối với công ích

166. Những yêu cầu của công ích tuỳ thuộc vào những điều kiện xă hội của mỗi giai đoạn lịch sử và có liên hệ chặt chẽ với việc tôn trọng và thăng tiến con người toàn diện cũng như các quyền căn bản của con người349. Những yêu cầu này trước hết bao gồm việc dấn thân xây dựng hoà b́nh, tổ chức các cơ quan quyền lực của quốc gia, xây dựng một hệ thống tư pháp lành mạnh, bảo vệ môi trường và cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho hết mọi người, mà một số trong đó cũng là các quyền lợi của con người: lương thực, nhà ở, việc làm, giáo dục và tiếp cận văn hoá, di chuyển, chăm sóc sức khoẻ căn bản, tự do truyền đạt và bày tỏ quan điểm, bảo vệ sự tự do tôn giáo350. Người ta cũng không được quên sự đóng góp mà mỗi quốc gia có bổn phận phải đưa ra để tiến tới việc hợp tác toàn cầu cho công ích của toàn thể nhân loại và cả của các thế hệ tương lai351.

167. Bởi đó, công ích có liên quan tới mọi thành phần trong xă hội, không ai được miễn cộng tác vào việc thực hiện và phát huy công ích, tuỳ theo khả năng của mỗi người352. Phải phục vụ công ích một cách đầy đủ, chứ không theo những chủ trương giản lược mà một số dân tộc đưa ra nhằm lợi ích riêng của ḿnh; trái lại, phải xây dựng công ích dựa trên một logic sẽ đưa người ta tới chỗ chịu trách nhiệm nhiều hơn. Công ích là điều đáp ứng bản năng cao cả nhất trong số các bản năng của con người353, nhưng đó cũng là một giá trị rất khó thực hiện v́ đ̣i phải có năng lực và cố gắng liên tục trong việc mưu cầu ích lợi cho người khác, như thể đó là ích lợi của bản thân ḿnh.

Mỗi người cũng có quyền hưởng những điều kiện của đời sống xă hội do việc t́m kiếm công ích đem lại. Giáo huấn của Đức Giáo hoàng Piô XI vẫn c̣n xác đáng: “Như mọi người có óc nhận định đều biết, ngày nay của cải của thế giới thụ tạo đang được phân phối dưới ảnh hưởng của những tệ đoan nặng nề, xuất phát từ chỗ có sự chênh lệnh khổng lồ giữa một thiểu số cực kỳ giàu có với vô số người không có tài sản; cần phải tổ chức lại sự phân phối ấy cách hiệu quả và phù hợp với các chuẩn mực về công ích, tức là công bằng xă hội”354.

c. Các nhiệm vụ của cộng đồng chính trị

168. Trách nhiệm đạt tới công ích không những thuộc về các cá nhân, mà c̣n là trách nhiệm của Nhà Nước, v́ công ích là lư do khiến quyền hành chính trị tồn tại355. Thật vậy, Nhà Nước phải bảo đảm cho xă hội dân sự, mà Nhà Nước là một biểu hiện356, được trật tự, thống nhất và có tổ chức, để công ích có thể được thực hiện với sự cộng tác của mỗi công dân. Cá nhân, gia đ́nh hay các tập thể trung gian không thể tự ḿnh phát triển bản thân trọn vẹn để sống một cuộc sống nhân bản thật sự. V́ thế, cần phải có các cơ quan chính trị giúp đỡ, v́ mục đích của những cơ quan này là làm sao sẵn sàng cống hiến cho con người những thiện ích cần thiết cho đời sống vật chất, văn hoá, luân lư và tâm linh. Thật vậy, mục tiêu của đời sống xă hội là công ích mà người ta có thể đạt được trong thực tế lịch sử357.

169. Để bảo đảm công ích, chính phủ mỗi nước có nghĩa vụ đặc biệt là làm hài hoà các quyền lợi khác nhau của các thành phần xă hội với các đ̣i hỏi của công lư358. Thật vậy, điều hoà cách thích hợp các lợi ích của các tập thể với các lợi ích của các cá nhân là một trong những nhiệm vụ tế nhị nhất của chính quyền. Ngoài ra, không được quên rằng trong các quốc gia dân chủ, nghĩa là trong các nước mà các quyết định thường được đưa ra do đa số các đại biểu được dân chúng bầu lên, những ai có trách nhiệm lănh đạo đất nước đều phải biết thể hiện công ích của quốc gia, không chỉ theo hướng đi của đa số mà c̣n theo ích lợi thật sự của mọi thành phần trong cộng đồng, kể cả các nhóm thiểu số.

170. Công ích của xă hội không phải là một mục tiêu tự thân: nó chỉ có giá trị khi có liên quan với việc thực hiện các mục tiêu tối hậu của con người và ích lợi chung của toàn thể thụ tạo. Thiên Chúa là mục tiêu tối hậu của các thụ tạo do Ngài dựng nên, và v́ thế, không thể v́ bất cứ lư do ǵ mà công ích mất đi chiều hướng siêu việt, tức là chiều hướng vừa vượt lên trên lịch sử vừa hoàn thành lịch sử359. Viễn cảnh này đạt đến sự viên măn của nó nhờ tin vào cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu, một mầu nhiệm cho chúng ta thấy rơ ích lợi chung thực sự của nhân loại đă được thực hiện như thế nào. Lịch sử của chúng ta – tức là nỗ lực cá nhân cũng như tập thể để nâng cao thân phận con người – bắt đầu và kết thúc nơi Đức Giêsu: nhờ Người, với Người và trong ánh sáng của Người, mọi thực tại, kể cả xă hội loài người, có thể được đưa tới Sự Thiện Tối Thượng, tới mức thành toàn của công ích. Một nhăn quan thuần tuư lịch sử và vật chất sẽ kết thúc bằng cách biến công ích thành một sự an vui đơn thuần về mặt kinh tế và xă hội mà không hướng tới một mục tiêu siêu việt nào, tức là không có lư do hiện hữu sâu xa nào của chính công ích.

III. MỤC TIÊU PHỔ QUÁT CỦA CỦA CẢI

a. Nguồn gốc và ư nghĩa

171. Trong số rất nhiều hệ luỵ rút ra từ công ích, quan trọng nhất là nguyên tắc của cải có mục tiêu phổ quát: “Thiên Chúa đă tiền định cho trái đất và tất cả những ǵ trái đất chứa đựng đều là cho mọi người và cho mọi dân tộc, ngơ hầu mọi thụ tạo đều được chia sẻ cách tương xứng cho hết mọi người dựa vào công lư, được điều tiết bởi bác ái”360. Nguyên tắc này dựa trên sự kiện “nguồn cội sau hết của mọi điều tốt lành là chính Thiên Chúa, Đấng đă tạo dựng cả trái đất lẫn con người, và đă trao trái đất cho con người để con người dùng lao động mà thống trị nó và hưởng dùng hoa trái của nó (St 1,28-29). Thiên Chúa ban trái đất cho toàn thể nhân loại để nuôi sống mọi người trong nhân loại, không loại trừ người nào mà cũng không ưu đăi người nào. Đây chính là nền tảng của mục tiêu phổ quát được gán cho các của cải trên trái đất. V́ mang lại nhiều hoa trái và có khả năng thoả măn các nhu cầu của con người, nên trái đất chính là quà tặng đầu tiên Chúa ban cho để bảo tồn sự sống con người”361. Con người không thể làm ǵ mà không có của cải vật chất, là thứ đáp ứng các nhu cầu căn bản của con người và cũng là điều kiện căn bản cho con người tồn tại. Những của cải này tuyệt đối cần thiết nếu như con người phải tự nuôi thân, lớn lên, liên lạc, hợp tác với người khác, và thực hiện các mục tiêu cao cả nhất mà con người được mời gọi thi hành362.

172. Quyền sử dụng của cải trên trái đất là quyền dựa trên nguyên tắc mục tiêu phổ quát của của cải. Mỗi người phải đạt được mức an sinh cần thiết để có thể phát triển trọn vẹn. Quyền dùng chung của cải là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức và xă hội”363 và là “nguyên tắc điển h́nh của giáo huấn xă hội Công giáo”364. Chính v́ lư do này, Giáo Hội thấy ḿnh có nghĩa vụ phải xác định bản chất và đặc tính của nguyên tắc này. Trước hết, đó là một quyền tự nhiên, được khắc ghi trong bản tính con người chứ không chỉ là một quyền thiết định có liên quan với hoàn cảnh xă hội hay thay đổi. Ngoài ra, đó c̣n là một quyền “nội tại”365. Đó là một quyền bẩm sinh nơi mỗi cá nhân trong mỗi con người, và có trước khi con người can thiệp bằng bất cứ cách nào liên quan đến tài sản, có trước bất cứ hệ thống pháp luật nào liên quan đến vấn đề này, có trước bất cứ hệ thống hoặc bất cứ phương pháp nào trong lĩnh vực kinh tế hay xă hội: “Mọi quyền lợi khác, kể cả quyền tư hữu và quyền buôn bán tự do, đều phải lệ thuộc chuẩn mực này (tức là mục tiêu phổ quát của của cải); chúng không được cản trở, mà phải t́m cách áp dụng chuẩn mực này vào thực tế nữa. Chúng ta phải coi việc quy chiếu các quyền này về với mục tiêu ban đầu của chúng là một bổn phận xă hội hết sức cấp thiết và nghiêm trọng”366.

173. Đưa nguyên tắc mục tiêu phổ quát của của cải vào thực tiễn, tuỳ theo những bối cảnh văn hoá và xă hội khác nhau, là phải xác định thật chính xác các phương pháp, các giới hạn và các đối tượng. Phân phối và sử dụng của cải một cách phổ quát không có nghĩa là mọi sự đều dành cho mỗi người và cho mọi người sử dụng cách tuỳ tiện, cũng không có nghĩa là cùng một vật nhưng có thể có ích hay thuộc về mỗi người hoặc thuộc về hết mọi người. Nếu đúng là mọi người đều được sinh ra với quyền sử dụng của cải trên trái đất, th́ cũng đúng không kém là để bảo đảm cho quyền này được thi hành một cách công bằng và trật tự, cần phải có những sự can thiệp để điều hoà, theo sau những thoả thuận cấp quốc gia và quốc tế, và phải có một trật tự pháp lư để phán đoán và xác định việc thi hành quyền ấy.

174. Nguyên tắc mục tiêu phổ quát của của cải chính là lời mời gọi chúng ta hăy triển khai một tầm nh́n kinh tế, được gợi hứng từ các giá trị luân lư, nhờ đó con người không đánh mất nguồn gốc và mục tiêu của của cải, ngơ hầu từ đó tạo ra một thế giới công bằng và liên đới, trong đó việc tạo ra của cải có thể mang một chức năng tích cực. Thật vậy, của cải cho thấy lư tưởng trên đây có thể được thực hiện dưới nhiều h́nh thức khác nhau, chẳng hạn của cải có thể xuất hiện như kết quả của một tiến tŕnh sản xuất, một tiến tŕnh đă được thực hiện có sự giúp đỡ của các nguồn công nghệ và kinh tế có sẵn, cả tự nhiên lẫn phi tự nhiên. Kết quả này có được là do có năng lực kinh tế, biết lập kế hoạch và cách làm việc, đồng thời biết sử dụng kết quả ấy làm phương tiện đẩy mạnh sự an sinh cho hết mọi người, mọi dân tộc, cũng như ngăn chặn sự khai trừ và bóc lột mọi người, mọi dân tộc.

175. Muốn thực hiện được mục tiêu phổ quát cho của cải, cần phải có nỗ lực chung hầu tạo cho mỗi người và mọi dân tộc những điều kiện cần thiết để phát triển toàn diện, hầu ai cũng có thể góp phần làm cho thế giới nhân bản hơn. “Trong thế giới ấy, mỗi cá nhân có thể cho và nhận, và trong thế giới ấy, sự tiến bộ của người này không c̣n cản trở sự phát triển của những người khác, cũng không c̣n là chiêu bài để bắt người khác làm nô lệ”367. Nguyên tắc này phù hợp với tiếng gọi mà Tin Mừng không ngừng loan báo cho con người và xă hội mọi thời, dù con người luôn luôn bị cám dỗ bởi ước muốn chiếm hữu, những cám dỗ mà chính Chúa Giêsu đă chọn để trải nghiệm (x. Mc 1,12-13; Mt 4,1-11; Lc 4,1-13) hầu dạy chúng ta biết làm thế nào để thắng vượt các cám dỗ ấy cùng với ơn Người ban.

b. Mục tiêu phổ quát của của cải và quyền tư hữu

176. Nhờ lao động và nhờ tận dụng khả năng trí tuệ, người ta có khả năng thống trị trái đất và biến nó thành một nơi ở thích hợp: “Bằng cách đó, con người biến một phần trái đất thành của ḿnh, chính xác hơn là biến phần trái đất mà ḿnh đă thu được thông qua lao động; đây chính là nguồn gốc của tư hữu368. Nhờ tư hữu và các h́nh thức khác trong việc làm chủ của cải cách cá nhân, con người đă “bảo đảm cho ḿnh có một không gian hết sức cần thiết để thực hiện sự độc lập cho cá nhân và gia đ́nh, có thể coi đó là sự nối dài tự do của con người… thúc giục con người thi hành trách nhiệm, và là một trong những điều kiện để có được sự tự do dân sự”369. Tư hữu chính là một yếu tố căn bản làm nên chính sách kinh tế và xă hội thực sự dân chủ; đó cũng là một bảo đảm để có một trật tự xă hội đúng đắn. Học thuyết Xă hội Công giáo đ̣i việc làm chủ của cải phải được mở ra một cách đồng đều cho hết mọi người370, để mọi người đều có thể trở thành chủ nhân, ít là trong một chừng mực nào đó, và tránh được t́nh trạng phải chấp nhận những h́nh thức “làm chủ một cách chung chạ và hỗn độn”371.

177. Truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ công nhận quyền tư hữu là quyền tuyệt đối và bất khả xâm phạm: “Ngược lại, truyền thống ấy luôn luôn hiểu quyền này trong khuôn khổ rộng lớn hơn là quyền của hết mọi người được sử dụng tài nguyên của toàn vũ trụ: quyền tư hữu phải lệ thuộc quyền sử dụng chung, lệ thuộc thực tế sau đây: của cải là nhằm phục vụ hết mọi người”372. Nguyên tắc mục tiêu phổ quát của của cải là một cách khẳng định chủ quyền vĩnh viễn và trọn vẹn của Thiên Chúa trên mọi thực tại và yêu cầu phải luôn đặt của cải phục vụ sự phát triển toàn diện con người và toàn thể nhân loại373. Nguyên tắc này không đi ngược quyền tư hữu374 nhưng chỉ cho chúng ta biết bổn phận phải điều hoà quyền ấy. Thật vậy, bất luận thi hành việc điều hoà và áp dụng các chuẩn mực pháp lư liên quan đến tư hữu dưới h́nh thức cụ thể nào, th́ tư hữu tự nó vẫn chỉ là một công cụ giúp chúng ta tôn trọng nguyên tắc mục tiêu phổ quát của của cải; bởi đó, phân tích tới cùng, tư hữu không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện375.

178. Ngoài ra, Học thuyết Xă hội Công giáo c̣n kêu gọi nh́n nhận vai tṛ xă hội của quyền tư hữu dưới bất cứ h́nh thức nào376, và quy chiếu rơ ràng mối quan hệ tất yếu giữa tư hữu với công ích377. Con người nên “nh́n các sự vật bên ngoài mà ḿnh đang sở hữu cách hợp pháp không chỉ như các sự vật của ḿnh mà c̣n như của chung, theo nghĩa chúng phải làm lợi không chỉ cho ḿnh mà c̣n cho những người khác”378. Mục tiêu phổ quát của của cải kéo theo những bổn phận liên quan đến việc các sở hữu chủ hợp pháp phải sử dụng của cải ấy thế nào. Các cá nhân không được phép sử dụng các tài nguyên của ḿnh mà không xét tới các hiệu quả mà việc sử dụng ấy có thể đem lại; tốt hơn, họ phải hành động thế nào để chúng có lợi không những cho họ và gia đ́nh họ mà c̣n có lợi cho công ích. Từ đó, chúng ta có thể rút ra một nghĩa vụ dành cho các chủ nhân, đó là không được để tài sản mà ḿnh đang sở hữu hoá thành vô ích, nhưng đúng hơn phải làm sao đưa chúng vào hoạt động sản xuất, thậm chí c̣n giao các tài sản ấy cho những người nào mong ước và có khả năng đưa chúng vào sản xuất.

179. Trong giai đoạn lịch sử hiện nay, có nhiều của cải mới để cho xă hội sử dụng mà trước đây xă hội hoàn toàn không biết đến. T́nh h́nh này kêu gọi chúng ta phải đọc lại nguyên tắc mục tiêu phổ quát của của cải trên trái đất theo một cách mới và cần phải mở rộng nguyên tắc ấy sao cho nó bao gồm được cả những sự phát triển mới nhất do các tiến bộ kinh tế và công nghệ mang lại. Quyền làm chủ các tài sản mới mẻ – như các kết quả của kiến thức, công nghệ và kỹ năng thực hành – càng ngày càng trở nên có tính quyết định, v́ “sự thịnh vượng của các quốc gia công nghiệp được xây dựng dựa trên h́nh thức sở hữu loại này hơn là dựa trên các tài nguyên thiên nhiên”379.

Phải đưa các kiến thức mới mẻ về công nghệ và khoa học phục vụ các nhu cầu căn bản của con người, để dần dần gia tăng di sản chung của nhân loại. Bởi đó, muốn cho nguyên tắc phân phối phổ quát của cải này mang lại hiệu quả đầy đủ, cần phải có những hành động ở cấp quốc tế và phải đưa ra những chương tŕnh làm việc có sự góp phần của mọi nước. “Cần phải phá bỏ các rào cản và các tổ chức độc quyền, đă khiến cho rất nhiều nước phải đứng bên lề cuộc phát triển, và phải cung cấp cho các cá nhân và quốc gia những điều kiện căn bản, giúp họ tham gia vào sự phát triển”380.

180. Nếu có nhiều h́nh thức sở hữu không được biết đến trong quá khứ, th́ nay chúng lại trở nên quan trọng đặc biệt trong tiến tŕnh phát triển kinh tế và xă hội. Tuy vậy, không được quên các h́nh thức tư hữu truyền thống. Tài sản cá nhân không phải là h́nh thức hợp pháp duy nhất cho người ta làm chủ. H́nh thức sở hữu chung ngày xưa cũng có tầm quan trọng đặc biệt; dù người ta cũng có thể t́m thấy h́nh thức này tại các nước tiến bộ về kinh tế, nhưng đó là h́nh thức điển h́nh trong cơ cấu xă hội của nhiều dân tộc bản địa. Đây là một h́nh thức sở hữu có ảnh hưởng sâu xa trên đời sống kinh tế, văn hoá và chính trị của những dân tộc ấy, đến nỗi đó chính là nhân tố căn bản giúp họ tồn tại và sống tốt đẹp. Tuy nhiên, không được v́ bảo vệ và đánh giá cao việc sở hữu chung mà quên rằng kiểu sở hữu này cũng phải thay đổi. Nếu làm nhiều cách chỉ để duy tŕ h́nh thức hiện tại của kiểu sở hữu này, sẽ có nguy cơ trói buộc kiểu sở hữu chung này với quá khứ và như vậy sẽ làm cho nó bị tổn hại381.

Việc phân chia đất đai cho công bằng vẫn là một vấn đề nan giải, đặc biệt tại các nước đang phát triển và các nước mới chuyển đổi từ một hệ thống được xây dựng dựa trên các tập thể hay chế độ thực dân382. Tại những khu vực nông thôn, khả năng có được đất đai thông qua các cơ hội mà lao động và thị trường tín dụng đem lại chính là điều kiện cần thiết để có thể đạt được các của cải và dịch vụ khác. Ngoài việc tạo ra một phương cách hữu hiệu để bảo vệ môi trường, khả năng này c̣n cho thấy một hệ thống an ninh xă hội có thể tổ chức tại các nước có cơ cấu hành chính quá yếu.

181. Việc thi hành quyền làm chủ dưới những h́nh thức khác nhau sẽ giúp cho các chủ thể, cá nhân hay cộng đồng, được hưởng thêm nhiều lợi ích khách quan như điều kiện sống tốt hơn, tương lai được an toàn hơn, và có khả năng lựa chọn nhiều hơn. Nhưng của cải cũng có thể mang lại nhiều hứa hẹn hăo huyền, là nguồn cám dỗ nhiều người. Những dân tộc và xă hội nào đi xa tới mức tuyệt đối hoá vai tṛ của của cải không sớm th́ muộn sẽ kinh nghiệm được thế nào là bị nô lệ một cách cay đắng nhất. Thật vậy, không có loại của cải nào được cho là không có ảnh hưởng ǵ đối với cá nhân và cơ chế. Chủ nhân nào biến của cải thành ngẫu tượng một cách thiếu thận trọng (x. Mt 6,24; 19,21-26; Lc 16,13) sẽ bị của cải làm chủ và biến họ thành nô lệ383. Chỉ khi nào nh́n nhận mọi của cải đều lệ thuộc Thiên Chúa Tạo Hoá và sử dụng chúng cho công ích, mới có thể trả lại cho của cải vật chất chức năng đúng đắn của chúng, tức là công cụ hữu ích giúp cá nhân và dân tộc phát triển.

c. Mục tiêu phổ quát của của cải và sự lựa chọn ưu tiên dành cho người nghèo

182. Nguyên tắc của cải có mục tiêu phổ quát buộc chúng ta phải coi người nghèo, người bị gạt ra bên lề và người bị ngăn cản không phát triển được do các điều kiện sống của họ, là những tiêu điểm cần quan tâm đặc biệt. Muốn vậy, cần phải tái xác nhận cách mạnh mẽ sự lựa chọn ưu tiên dành cho người nghèo384. “Đây là một lựa chọn hay là một h́nh thức đặc biệt của việc sắp xếp ưu tiên trong khi thi hành đức bác ái Kitô giáo, như toàn bộ truyền thống Giáo Hội đă làm chứng. Sự lựa chọn ấy không những ảnh hưởng trên đời sống của mỗi Kitô hữu khi họ t́m cách bắt chước cuộc sống của Đức Kitô, mà c̣n ảnh hưởng đến các trách nhiệm xă hội của chúng ta, và từ đó, ảnh hưởng đến cách sống và các quyết định hợp lư của chúng ta liên quan tới việc làm chủ và sử dụng của cải. Hơn thế nữa, hiện nay, với chiều hướng toàn cầu mà các vấn đề xă hội đều có, t́nh yêu ưu tiên dành cho người nghèo và những quyết định phát sinh từ đó chắc hẳn bao trùm lên vô số người đói khát, người túng thiếu, người vô gia cư, người không được chăm sóc y tế, và trên hết, người không hy vọng sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn”385.

183. Sự khốn khổ của con người chính là một dấu chỉ rơ ràng rằng thân phận tự nhiên của con người thật yếu đuối và cần được cứu độ386. Về mặt này, Đức Kitô Cứu Thế đă tỏ ra rất thông cảm, khi Người tự đồng hoá ḿnh với người “nhỏ nhất” trong loài người (x. Mt 25,40.45). “Chính qua những ǵ người ta làm cho người nghèo mà Đức Kitô sẽ nhận ra họ là người được Người chọn lựa. Khi ‘người nghèo được nghe những tin tốt lành’ (Mt 11,5), đó chính là dấu cho thấy Đức Kitô đang hiện diện”387.

Đức Kitô tuyên bố: “Anh em sẽ luôn luôn có người nghèo bên cạnh, nhưng anh em sẽ không luôn luôn có Thầy đâu” (Mt 26,11; x. Mc 14,7; Ga 12,8). Người nói ra điều này không phải để đối chọi việc quan tâm tới Người với việc phục vụ người nghèo. Quan điểm hiện thực của Kitô giáo vừa trân trọng các nỗ lực đáng khen trong việc đánh bại sự nghèo đói, vừa dè dặt đối với những lập trường chịu ảnh hưởng bởi những ư thức hệ và những niềm tin cứu thế luôn nuôi ảo tưởng rằng có thể loại bỏ hoàn toàn vấn đề nghèo đói ra khỏi thế giới này. Điều này sẽ chỉ xảy ra khi Đức Kitô trở lại để  ở với chúng ta một lần nữa và ở măi măi. C̣n trong lúc này, người nghèo vẫn được kư thác cho chúng ta và chúng ta sẽ bị xét xử trong ngày tận thế dựa trên chính trách nhiệm này (x. Mt 25,31-46): “Chúa đă cảnh cáo chúng ta là chúng ta sẽ bị chia cách với Người nếu chúng ta không đáp ứng các nhu cầu nghiêm trọng của người nghèo và những người bé nhỏ, v́ họ là anh em của Người”388.

184. Ḷng yêu thương mà Giáo Hội dành cho người nghèo được cảm hứng từ Tin Mừng Tám Mối Phúc, từ đời sống khó nghèo của Chúa Giêsu và từ sự quan tâm của Người đối với người nghèo. Ḷng yêu thương này không những có liên quan tới sự khó nghèo vật chất, mà c̣n liên quan tới nhiều h́nh thức khác nhau của sự nghèo nàn về văn hoá và tôn giáo389. “Từ lúc khởi đầu và dù có nhiều phần tử của Giáo Hội đă không làm, Giáo Hội vẫn không ngừng làm việc để xoa dịu, bảo vệ và giải phóng những người cùng khổ qua biết bao việc làm bác ái, mà thời nào và ở đâu vẫn luôn luôn cần thiết”390. Được lời mời gọi của Tin Mừng thôi thúc – “Các ngươi đă nhận không th́ cũng phải cho không” (Mt 10,8) – Giáo Hội yêu cầu chúng ta phải giúp đỡ đồng loại của ḿnh trong mọi nhu cầu khác nhau và phải làm cho cộng đồng nhân loại tràn ngập các việc thương xác và thương linh hồn. “Trong số các việc ấy, bố thí cho người nghèo là một trong những chứng từ chủ yếu cho t́nh bác ái huynh đệ: đó cũng là một việc làm của đức công bằng mà Chúa rất hài ḷng”391, dù thi hành bác ái không chỉ là bố thí mà c̣n liên hệ tới khía cạnh xă hội và chính trị của vấn đề nghèo nàn. Trong giáo huấn của ḿnh, Giáo Hội thường xuyên nhắc tới mối tương quan giữa ḷng bác ái và sự công bằng: “Khi chúng ta chăm lo các nhu cầu của những người đang cần là chúng ta đă trả cho họ cái của họ, chứ không phải của chúng ta. Chúng ta không chỉ làm các việc bày tỏ ḷng thương xót mà là đang trả một món nợ công bằng”392. Các Nghị phụ Công đồng đă mạnh mẽ nhắn nhủ chúng ta phải chu toàn nghĩa vụ này cách đúng đắn và luôn nhớ rằng “điều ǵ phải làm theo sự công bằng th́ không được biếu như quà của ḷng bác ái”393. Ḷng yêu thương người nghèo chắc chắn “không thể đi đôi với sự yêu thích các của cải cách thái quá hay sử dụng của cải một cách ích kỷ”394 (x. Gc 5,1-6).

IV. NGUYÊN TẮC BỔ TRỢ

a. Nguồn gốc và ư nghĩa

185. Bổ trợ là một trong những định hướng bền vững và đặc thù nhất của Học thuyết Xă hội Công giáo, và đă có mặt trong học thuyết ấy ngay từ văn kiện xă hội quan trọng đầu tiên395. Không thể phát huy phẩm giá con người mà không quan tâm tới gia đ́nh, các tập thể, các hiệp hội, các thực thể địa phương; nói khác đi, không quan tâm tới toàn bộ các biểu hiện kinh tế, xă hội, văn hoá, thể thao, giải trí, nghề nghiệp và chính trị mà dân chúng đă tự động tạo ra v́ chúng giúp họ thực hiện việc tăng trưởng xă hội một cách hiệu quả396. Đây chính là thực tế của xă hội dân sự, có thể hiểu là tổng số các mối quan hệ giữa cá nhân với các tập thể xă hội làm trung gian, cũng là những mối quan hệ đầu tiên, nảy sinh do “tính chủ thể sáng tạo của người công dân”397. Nhờ mạng lưới các quan hệ ấy, cơ cấu xă hội mới vững mạnh và cộng đồng các ngôi vị mới có nền tảng, từ đó chúng ta có thể nhận ra những h́nh thức cao hơn của hoạt động xă hội398.

186. Giáo Hội từng nhấn mạnh tới nhu cầu cần bảo vệ và phát huy các biểu hiện nguyên thuỷ của đời sống xă hội trong Thông điệp Quadragesimo Anno, theo đó Giáo Hội cũng chỉ ra bổ trợ chính là một nguyên tắc quan trọng nhất của “triết học xă hội”. “Thật là sai lầm trầm trọng khi rút khỏi tay các cá nhân những ǵ họ có thể làm được dựa vào sáng kiến và sự chuyên cần của ḿnh để trao cho cộng đồng; cũng vậy, thật là bất công và tai hại nghiêm trọng, làm trật tự đúng đắn bị xáo trộn, khi giao cho một tổ chức cao hơn và lớn hơn những ǵ mà các tổ chức nhỏ hơn và cấp dưới có thể làm được. V́ chưng, bất cứ hoạt động xă hội nào tự bản chất cũng phải trợ giúp các thành viên trong xă hội, chứ không bao giờ phá huỷ và tiêu diệt họ”399.

Dựa trên nguyên tắc này, mọi xă hội thuộc trật tự cao hơn phải có thái độ trân trọng giúp đỡ (subsidium) – tức là hỗ trợ, đẩy mạnh, phát triển – các xă hội thuộc trật tự thấp hơn. Có như thế, các thực thể xă hội trung gian mới có thể chu toàn các vai tṛ của ḿnh mà không cần phải giao chúng cho các đơn vị xă hội khác thuộc đẳng cấp cao hơn, để rồi cuối cùng bị tiêu tán và bị thay thế, để rồi phải chứng kiến cảnh tượng phẩm giá và vị trí căn bản của ḿnh cũng bị phủ nhận.

Bổ trợ hiểu theo nghĩa tích cực là sự giúp đỡ về kinh tế, cơ chế hay pháp lư cho các đơn vị xă hội nhỏ hơn, nhưng có thể dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực như cấm Nhà Nước làm bất cứ điều ǵ mà thật sự hạn chế không gian sống của các đơn vị xă hội căn bản nhỏ bé đó. Không ai được phế bỏ sáng kiến, tự do và trách nhiệm của các đơn vị căn bản ấy.

b. Những chỉ dẫn cụ thể

187. Nhờ nguyên tắc bổ trợ, dân chúng có thể được bảo vệ khỏi những sự lạm quyền của chính quyền cấp cao hơn và chính quyền này cũng được mời gọi hăy giúp các cá nhân và các đoàn thể trung gian chu toàn nghĩa vụ. Nguyên tắc này cũng mang tính đ̣i buộc, v́ mỗi người, mỗi gia đ́nh và mỗi đoàn thể trung gian đều có một điều ǵ đó độc đáo có thể đóng góp cho cộng đồng. Kinh nghiệm cho thấy chối bỏ sự bổ trợ hay hạn chế sự bổ trợ nhân danh việc dân chủ hoá hoặc nhân danh sự b́nh đẳng giữa các thành phần xă hội sẽ làm giảm bớt và đôi khi phá huỷ luôn tinh thần tự do và sáng kiến.

Nguyên tắc bổ trợ chống lại một số h́nh thức trung ương tập quyền, quan liêu giấy tờ và cứu trợ an sinh, cũng như sự hiện diện vô lư và thái quá của Nhà Nước trong guồng máy công cộng. “Khi can thiệp một cách thẳng thắn và lấy đi khỏi xă hội trách nhiệm phải thi hành, cơ quan cứu trợ xă hội của Nhà Nước sẽ làm phí tổn nhiều năng lực và gia tăng quá mức các tổ chức công cộng, là những tổ chức hay suy nghĩ theo thói quan liêu giấy tờ hơn là thực sự quan tâm tới việc phục vụ đối tượng của chúng, và từ đó kéo theo việc gia tăng chi tiêu thật đáng kể”400. Không nh́n nhận hay nh́n nhận không đầy đủ sáng kiến cá nhân – kể cả trong lĩnh vực kinh tế – và không nh́n nhận chức năng công cộng của sáng kiến tư nhân sẽ dần dần phá hoại nguyên tắc bổ trợ, như các tổ chức độc quyền đă làm.

Để áp dụng nguyên tắc bổ trợ vào thực tiễn, có một nhu cầu tương ứng cần thoả măn: đó là tôn trọng và thăng tiến con người và gia đ́nh; trân trọng ngày càng nhiều hơn các hiệp hội và các tổ chức trung gian trong những lựa chọn căn bản của họ, trong những lựa chọn không thể uỷ thác cho người khác hay không thể được thực hiện bởi người khác; cổ vũ các tổ chức tư nhân sao cho bất cứ đơn vị xă hội nào cũng phục vụ công ích, mỗi tổ chức với những nét riêng của ḿnh; sao cho có sự đa nguyên trong xă hội và cho các thành phần quan trọng làm nên xă hội đều có người đại diện; bảo vệ nhân quyền và quyền lợi của các nhóm thiểu số; dẹp bỏ t́nh trạng trung ương tập quyền về hành chính và bàn giấy; tạo thế cân bằng giữa khu vực công cộng và khu vực tư nhân, đồng thời nh́n nhận vai tṛ xă hội của khu vực tư nhân; dùng những phương pháp thích hợp để giúp các công dân ngày càng có trách nhiệm tích cực “tham gia” vào thực tế chính trị và xă hội của đất nước.

188. Một số hoàn cảnh có thể thích hợp để Nhà Nước tham gia trợ giúp thực hiện một vài chức năng401. Chẳng hạn, có những t́nh huống mà trong đó Nhà Nước cần phải đích thân đứng ra khởi động nền kinh tế v́ xă hội dân sự ở đó không đủ sức hỗ trợ các sáng kiến của họ. Cũng có thể có trường hợp v́ t́nh trạng mất cân bằng xă hội hay bất công xă hội quá nghiêm trọng mà chính quyền cần can thiệp để tạo ra những điều kiện b́nh đẳng, công bằng và hoà b́nh hơn. Tuy nhiên, theo nguyên tắc bổ trợ, sự thay thế mang tính cơ chế này không được tiếp tục khi không c̣n cần thiết tuyệt đối nữa, v́ lư do biện minh cho những sự can thiệp này chỉ là do t́nh h́nh bất thường. Dù sao, nếu hiểu công ích đúng đắn – những đ̣i hỏi của công ích không bao giờ đi ngược lại việc bảo vệ và đẩy mạnh thế ưu việt của cá nhân, cũng như cách thức bày tỏ những điều này trong xă hội – th́ công ích vẫn phải là tiêu chuẩn mà con người cần dựa vào để đưa ra những quyết định có liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc bổ trợ.

V. SỰ THAM GIA

a. Ư nghĩa và giá trị

189. Một hệ luận điển h́nh của nguyên tắc bổ trợ là sự tham gia402, được thực hiện chủ yếu qua một loạt hoạt động mà nhờ đó các công dân – trong tư cách cá nhân hay liên kết với người khác, trực tiếp hay thông qua đại diện – góp phần vào đời sống văn hoá, kinh tế, chính trị và xă hội của cộng đồng dân sự mà ḿnh là thành viên403. Tham gia là một nghĩa vụ mà mọi người phải chu toàn một cách ư thức, với tinh thần trách nhiệm và nhắm tới công ích404.

Bổn phận tham gia không thể bị giới hạn hay bị thu hẹp trong một lĩnh vực nào đó của đời sống xă hội, lấy lư do là lĩnh vực ấy quan trọng đối với sự phát triển - nhất là phát triển nhân bản - như trong thế giới lao động và hoạt động kinh tế, cách riêng trong các vận hành nội bộ của các hoạt động này405; trong lĩnh vực thông tin và văn hoá; hay xa hơn nữa, trong lĩnh vực xă hội và chính trị, kể cả ở những cấp cao nhất. Mọi dân tộc cộng tác với nhau và cộng đồng quốc tế được xây dựng trong khuôn khổ của t́nh liên đới, những điều này tuỳ thuộc sự tham gia vào đời sống xă hội và chính trị406. Chính v́ thế, tuyệt đối cần cổ vũ sự tham gia đặc biệt của các thành phần kém may mắn nhất, cũng như cần ủng hộ việc luân phiên theo từng lần giữa các nhà lănh đạo chính trị để pḥng tránh việc tạo ra những đặc ân ngầm. Ngoài ra, cần phải tạo những áp lực luân lư mạnh mẽ để việc quản trị đời sống công cộng là kết quả của việc mỗi cá nhân cùng nhau chia sẻ trách nhiệm đối với công ích.

b. Tham gia và dân chủ

190. Tham gia vào đời sống cộng đồng không chỉ là một trong những ước nguyện lớn lao nhất của người công dân, đă được mời gọi thi hành vai tṛ công dân của ḿnh cùng với người khác và v́ người khác một cách tự nguyện và có trách nhiệm407, mà đó c̣n là một trong những cột trụ nâng đỡ mọi trật tự dân chủ và là một trong những bảo đảm quan trọng cho hệ thống dân chủ luôn được bền vững. Thật vậy, một chính phủ dân chủ, được xác định trước tiên là một chính phủ do nhân dân uỷ thác quyền hành và nhiệm vụ, thi hành các điều ấy nhân danh nhân dân, quan tâm đến nhân dân và thay mặt nhân dân. Bởi đó, rơ ràng là chế độ dân chủ nào cũng phải là chế độ có sự tham gia408. Nói thế có nghĩa là các chủ thể của cộng đồng dân sự ở bất cứ cấp nào cũng phải được thông tin, được lắng nghe và tham gia vào việc thi hành các chức vụ.

191. Có thể thực hiện việc tham gia này qua mọi mối quan hệ khác nhau giữa người công dân và các cơ quan: muốn vậy, cần phải chú ư đặc biệt tới các bối cảnh xă hội và lịch sử, trong đó sẽ diễn ra những việc tham gia ấy. Muốn vượt qua những trở ngại về văn hoá, luật lệ và xă hội – là những rào cản thực sự không cho các công dân cùng tham gia với nhau vào định mệnh của cộng đồng – cần phải nỗ lực nhiều trong các lĩnh vực thông tin và giáo dục409. Về điểm này, tất cả những thái độ nào thúc đẩy các công dân tham gia một cách không xứng hợp hay không đúng đắn, hoặc làm cho các công dân đâu đâu cũng ác cảm với bất cứ điều ǵ liên quan đến đời sống xă hội và chính trị, đều đáng được chúng ta quan tâm và suy xét cẩn thận. Chẳng hạn, một số công dân đă tính toán “mặc cả” với các cơ quan để có thể nhận được những điều kiện ưu đăi cho bản thân ḿnh, làm như các cơ quan ấy có mục đích là phục vụ các nhu cầu ích kỷ của họ; hoặc có nhiều công dân chỉ giới hạn việc tham gia vào tiến tŕnh bầu cử, và nhiều khi c̣n bỏ luôn không tham gia vào việc bỏ phiếu410.

Về việc tham gia đời sống xă hội và chính trị, c̣n một lư do đáng quan tâm nhiều hơn nữa ở các nước sống dưới các chế độ chuyên chế và độc tài: tại đây, quyền căn bản là được tham gia vào đời sống công cộng đă bị chối bỏ tận gốc v́ bị coi là mối đe doạ cho chính quốc gia411. Tại một số nước, quyền này chỉ được công bố cho có, c̣n trong thực tế không hề được thi hành cụ thể. C̣n ở một số quốc gia khác, t́nh trạng quan liêu bàn giấy, thực tế (de facto) mà nói, đă làm các công dân không thể tham gia tích cực vào đời sống xă hội và chính trị nữa412.

VI. NGUYÊN TẮC LIÊN ĐỚI

a. Ư nghĩa và giá trị

192. Sự liên đới làm nổi bật một cách đặc biệt bản tính xă hội nội tại của con người, sự b́nh đẳng của mọi người về phẩm giá và quyền lợi, cũng như con đường chung cho các cá nhân và các dân tộc tiến tới sự thống nhất với một ư thức ngày càng cao hơn. Trước đây, chưa hề có một sự nhận thức phổ biến như thế về mối quan hệ lệ thuộc nhau giữa các cá nhân và các dân tộc, có thể t́m thấy ở mọi cấp độ413. Sự bành trướng nhanh chóng về cách thế và phương tiện truyền thông “trong thực tế hiện nay”, như những cách thế và phương tiện do công nghệ thông tin, do các tiến bộ vượt bậc trong công nghệ điện toán, do sự gia tăng khối lượng trao đổi thương mại và thông tin đă mang lại, tất cả đều minh chứng cho sự thật này là lần đầu tiên kể từ khi lịch sử nhân loại bắt đầu, người ta đă có thể thiết lập – ít là về mặt kỹ thuật – các mối quan hệ giữa những người ở cách nhau rất xa và hoàn toàn không quen biết nhau.

Tuy nhiên, trước hiện tượng lệ thuộc nhau và bành trướng liên tục về cách thức và phương tiện truyền thông như thế, khắp nơi trên thế giới vẫn c̣n thấy sự bất b́nh đẳng sâu sắc giữa các nước đă phát triển và các nước đang phát triển, những sự bất b́nh đẳng do các h́nh thức bóc lột, đàn áp và tham nhũng gây ra, từng gây ảnh hưởng tiêu cực trên đời sống quốc nội và quốc tế của nhiều nước. Việc gia tăng các quan hệ lệ thuộc nhau giữa các cá nhân và các dân tộc cần phải được kèm theo những nỗ lực khẩn trương không kém trên b́nh diện đạo đức xă hội, để tránh những hậu quả nguy hại là đưa bất công lên tới cấp toàn cầu. Điều này sẽ gây những âm hưởng rất tiêu cực cả tại các nước đang có lợi thế hơn414.

b. Liên đới, một nguyên tắc xă hội và là một đức tính luân lư

193. Những mối quan hệ mới mẻ về sự lệ thuộc nhau giữa các cá nhân và các dân tộc, mới là những h́nh thức liên đới trong thực tế, cần phải được biến thành những quan hệ nhằm tạo ra sự liên đới đích thực trên b́nh diện đạo đức xă hội. Đây là một yêu cầu luân lư vốn tồn tại trong hết mọi mối quan hệ của con người. Bởi đó, cần phải nh́n sự liên đới dưới hai khía cạnh bổ sung cho nhau: liên đới là một nguyên tắc xă hội415 và là một đức tính luân lư416.

Trên hết, phải nh́n sự liên đới trong giá trị của nó như một đức tính luân lư, nhằm xác định trật tự của các định chế. Dựa trên nguyên tắc này, “các cơ cấu tội lỗi417 từng chi phối các quan hệ giữa các cá nhân và các dân tộc cần phải được khắc phục. Các cơ cấu ấy cần được thanh tẩy và biến thành “các cơ cấu liên đới” bằng cách thành lập hay điều chỉnh thích đáng các luật lệ, các sự điều tiết thị trường và các hệ thống tư pháp.

Liên đới cũng là một đức tính luân lư thực sự, không phải là một “cảm giác thông cảm mơ hồ hay đau buồn hời hợt trước những bất hạnh của nhiều người, gần gũi cũng như xa lạ. Ngược lại, liên đới là có một quyết tâm vừa chắc chắn vừa kiên định muốn dấn thân lo cho công ích. Tức là lo cho ích lợi của mọi người và mỗi người, v́ tất cả chúng ta thật sự đều phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi người”418. Liên đới được nâng lên hàng đức tính xă hội căn bản, v́ đó là đức tính nằm trong phạm vi của  công bằng. Đó là một đức tính ưu tiên nhắm tới công ích và được t́m thấy nơi những người “dấn thân lo cho ích lợi của người thân cận tới mức, theo nghĩa của Tin Mừng, sẵn sàng “liều mất bản thân ḿnh” v́ người khác thay v́ khai thác người khác, và sẵn sàng “phục vụ người khác” thay v́ áp bức người khác v́ ích lợi riêng (x. Mt 10,40-42; 20,25; Mc 10,42-45; Lc 22,25-27)”419.

c. Liên đới và sự phát triển chung của nhân loại

194. Thông điệp của Học thuyết Xă hội Công giáo về sự liên đới đă cho thấy rơ có một mối tương quan mật thiết giữa liên đới và công ích, giữa liên đới với mục tiêu phổ quát của của cải, giữa liên đới với b́nh đẳng giữa con người và giữa các dân tộc, giữa liên đới và hoà b́nh trên thế giới420. Thuật ngữ “liên đới”, mà Huấn Quyền dùng rất nhiều421, diễn tả cách tóm tắt nhu cầu phải nhận ra trong những mối liên kết con người với nhau và các tập thể xă hội với nhau, có cả một không gian cho con người được tự do xây dựng sự phát triển chung, trong đó mọi người cùng chia sẻ và cùng tham gia. Sự dấn thân cho mục tiêu này được diễn tả thành việc tích cực đóng góp bằng cách lưu ư làm sao cho trong sự nghiệp chung không thiếu điều ǵ, cũng như t́m ra những điểm có thể giúp hai bên đồng thuận với nhau thay v́ chia rẽ và tan ră. Sự dấn thân cho mục tiêu này cũng được diễn tả thành việc sẵn sàng thí mạng v́ ích lợi của tha nhân, vượt lên trên những ích lợi cá nhân và cá biệt422.

195. Nguyên tắc liên đới đ̣i hỏi con người hôm nay phải ngày càng nhận thức rơ hơn rằng họ chính là người mắc nợ xă hội mà trong đó họ là thành viên. Họ là những người mắc nợ v́ tất cả những điều kiện đă làm cho cuộc sống của họ trở nên đáng sống, và v́ những di sản không thể phân chia được nhưng rất cần thiết do văn hoá, do sự hiểu biết khoa học và kỹ thuật, do của cải vật chất và phi vật chất cũng như do tất cả những ǵ mà điều kiện con người mang lại. Chúng ta cũng phải nhận ra món nợ tương tự như thế trong sự tương tác xă hội dưới nhiều h́nh thức, nhờ đó hành tŕnh của nhân loại không bị gián đoạn mà luôn mở ra cho các thế hệ hiện tại và tương lai, mọi thế hệ này đều được mời gọi chia sẻ món quà ấy trong tinh thần liên đới.

d. Liên đới trong cuộc đời và thông điệp

    của Đức Giêsu Kitô

196. Tột đỉnh của viễn tượng mà chúng ta đang nói đến ở đây là chính cuộc đời Đức Giêsu Nazareth, Con Người Mới, Đấng đă kết hợp với nhân loại sâu xa tới mức “chết trên thập giá” (Pl 2,8). Nơi Người, chúng ta luôn luôn nhận ra dấu chỉ sống động của một t́nh yêu khôn lường và siêu việt của “Thiên-Chúa-với-chúng-ta”, Đấng đă mang lấy những tật bệnh của dân ḿnh, cùng đồng hành với họ, cứu thoát họ và hợp nhất họ thành một423. Trong Người và nhờ Người, cuộc sống xă hội, dù có đầy mâu thuẫn và mơ hồ, cũng trở thành nơi chan chứa sự sống và hy vọng: đó là dấu hiệu của ân sủng không ngừng được ban tặng cho mọi người, và đó cũng là lời mời gọi con người chia sẻ cuộc sống ấy bằng những h́nh thức ngày càng cao cả và tích cực hơn.

Đức Giêsu Nazareth đă làm cho mối dây liên kết sự liên đới với bác ái được sáng tỏ trước mặt mọi người, bằng cách làm sáng lên ư nghĩa của mối dây liên kết này424: “Trong ánh sáng đức tin, sự liên đới t́m cách vượt lên trên chính nó, mang lấy chiều hướng điển h́nh của Kitô giáo là trao ban hoàn toàn vô điều kiện, tha thứ và hoà giải. Lúc ấy, người thân cận của chúng ta không phải chỉ là một con người có những quyền lợi và sự b́nh đẳng căn bản cùng với hết mọi người, mà c̣n là h́nh ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, đă được máu Đức Giêsu Kitô cứu chuộc và được đặt dưới tác động trường kỳ của Thánh Thần. Thế nên, phải yêu thương tha nhân, dù đó là kẻ thù, bằng cùng một t́nh yêu như t́nh yêu mà Thiên Chúa yêu thương họ; và chính v́ ích lợi của người ấy mà người ta sẵn sàng hy sinh, thậm chí tới mức cuối cùng là hy sinh tính mạng v́ anh em (x. 1 Ga 3,16)”425.

VII. CÁC GIÁ TRỊ CĂN BẢN CỦA ĐỜI SỐNG XĂ HỘI

a. Quan hệ giữa các nguyên tắc và các giá trị

197. Không kể những nguyên tắc phải dùng để hướng dẫn việc xây dựng một xă hội cho xứng với con người, Học thuyết Xă hội Công giáo c̣n nêu ra các giá trị căn bản. Quan hệ giữa các nguyên tắc và các giá trị chắc chắn là một quan hệ hỗ tương, ở chỗ các giá trị xă hội chính là một cách diễn tả sự quư trọng đối với các khía cạnh đặc biệt của một điều tốt luân lư mà các nguyên tắc ấy đang cổ vũ, dùng các khía cạnh ấy như những điểm tham chiếu khi muốn tổ chức đúng đắn và hướng dẫn đời sống trong xă hội một cách trật tự. Bởi đó, các giá trị này đ̣i hỏi vừa phải thực hành các nguyên tắc căn bản của đời sống xă hội vừa phải thực tập các nhân đức một cách cá nhân, hay nói cách khác, phải thể hiện các thái độ luân lư phù hợp với các giá trị này426.

Mọi giá trị xă hội đều nằm sẵn trong phẩm giá con người, và chúng tạo điều kiện cho con người được phát triển thực sự. Các giá trị chủ yếu ấy là sự thật, tự do, công bằng và yêu thương427. Đem các giá trị ấy ra thực hành chính là phương cách chắc chắn và cần thiết để cá nhân được hoàn thiện và cuộc sống xă hội được nhân bản hơn. Các giá trị ấy chính là điểm tham chiếu không thể thiếu cho chính quyền v́ họ là những người được mời gọi hăy tiến hành “cải cách có thực chất các cơ cấu kinh tế, chính trị, văn hoá và công nghệ, đồng thời tạo ra những thay đổi cần thiết trong các định chế”428. Chính v́ tôn trọng sự tự trị chính đáng của các thực tại trần thế mà Giáo Hội đă không đ̣i cho ḿnh thẩm quyền chuyên môn trong trật tự kỹ thuật hay trần thế429, nhưng không v́ thế mà Giáo Hội không được quyền can thiệp để chỉ cho thấy các giá trị trên đây đă được nh́n nhận hay chối bỏ như thế nào trong các lựa chọn khác nhau của con người430.

b. Sự thật

198. Mọi người có nghĩa vụ đặc biệt là phải luôn hướng tới sự thật, tôn trọng sự thật và làm chứng về sự thật một cách có trách nhiệm431. Sống trong sự thật là điều đặc biệt quan trọng trong các quan hệ xă hội. Thật vậy, khi việc sống chung của con người trong cộng đồng được xây dựng trên sự thật, đời sống chung ấy sẽ được trật tự và có kết quả, xứng với phẩm giá của những con người432. Càng nhiều người và nhiều tập thể xă hội cố gắng giải quyết các vấn đề xă hội theo đúng sự thật, họ càng tránh được những lạm dụng và càng dễ hành động phù hợp với các đ̣i hỏi khách quan của luân lư.

Thời đại hôm nay đ̣i phải có những nỗ lực giáo dục hết sức cao độ433 và phải có sự dấn thân tương xứng của hết mọi người, có như thế việc t́m kiếm sự thật mới không bị quy thành việc tổng hợp các ư kiến khác nhau hoặc xoay quanh một hai ư kiến nào trong số đó. Việc t́m kiếm này sẽ được cổ vũ trong mọi lĩnh vực và sẽ vượt lên trên mọi toan tính muốn tương đối hoá đ̣i hỏi của sự thật hay chống lại sự thật434. Đây là một vấn đề liên can đến thế giới truyền thông đại chúng và thế giới kinh tế một cách đặc biệt. Trong các lĩnh vực này, việc sử dụng đồng tiền một cách không chút áy náy tạo ra những vấn đề càng ngày càng cấp bách, đ̣i phải có sự minh bạch và liêm khiết nhiều hơn nữa cả trong các hoạt động cá nhân lẫn hoạt động xă hội.

c. Tự do

199. Tự do là dấu chỉ cao đẹp nhất nơi con người cho thấy con người được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa, và do đó, cũng là dấu chỉ cho biết phẩm giá tuyệt vời của mỗi người435. “Tự do diễn ra trong các quan hệ giữa người với người. Mỗi người, được tạo dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa, có quyền tự nhiên là được nh́n nhận như một hữu thể tự do và có trách nhiệm. Mọi người đều phải có nghĩa vụ tôn trọng điều ấy. Quyền thể hiện sự tự do, nhất là trong các vấn đề luân lư và tôn giáo, là một đ̣i hỏi không thể bỏ được trong phẩm giá con người”436. Không được nh́n sự tự do theo viễn ảnh hoàn toàn cá nhân chủ nghĩa, rút gọn nó thành việc tuỳ tiện thể hiện sự độc lập của cá nhân một cách không kiềm chế: “Thay v́ dừng lại với sự tự măn hoàn toàn và dẹp bỏ mọi quan hệ, tự do chỉ thực sự có ở những nơi nào mọi người được liên kết với nhau bằng các mối quan hệ hỗ tương, xây dựng trên sự thật và công lư”437. Người ta sẽ càng ngày càng hiểu sâu rộng hơn về sự tự do khi người ta biết bảo vệ sự tự do trong mọi chiều hướng khác nhau của nó, kể cả trên b́nh diện xă hội.

200. Giá trị của tự do – một biểu hiện cho tính độc đáo của mỗi con người – sẽ được tôn trọng khi nào mọi thành phần trong xă hội đều có điều kiện hoàn thành ơn gọi riêng của ḿnh; t́m kiếm sự thật và bày tỏ các tư tưởng tôn giáo, văn hoá và chính trị của ḿnh; lựa chọn bậc sống, và nếu có thể, lựa chọn hướng nghề nghiệp cho ḿnh; theo đuổi các sáng kiến mang bản chất kinh tế, xă hội hay chính trị. Những điều này phải được thực hiện trong “một khung pháp lư vững chắc”438, nghĩa là trong những giới hạn do ích chung và trật tự xă hội đặt ra, nhưng dù trong bất cứ trường hợp nào cũng phải thực hiện theo phương cách đề cao tinh thần trách nhiệm.

Ngược lại, cũng phải bày tỏ sự tự do như một khả năng biết khước từ điều tiêu cực về mặt luân lư, dù nguỵ trang dưới chiêu bài nào439, chẳng hạn khả năng tránh xa những ǵ có thể gây trở ngại cho sự phát triển cá nhân, gia đ́nh và xă hội. Tự do sung măn chính là có khả năng làm chủ bản thân bằng cách nh́n đến ích lợi thật sự, trong khuôn khổ công ích phổ quát440.

d. Công lư

201. Công lư là một giá trị đi kèm với việc thực hành đức tính luân lư căn bản tương ứng441. Theo cách hiểu cổ điển nhất, công lư chính là “có ước muốn kiên định và vững chắc trả những ǵ ḿnh mắc nợ Chúa và tha nhân”442. Nếu nh́n từ phía chủ thể, công lư là thái độ xuất phát từ chỗ muốn nh́n nhận người khác như một ngôi vị; c̣n nếu nh́n từ phia khách thể, công lư tạo nên những tiêu chuẩn mang tính quyết định cho biết giá trị luân lư của một hành vi trong quan hệ liên chủ thể và xă hội443.

Huấn quyền xă hội Công giáo thường xuyên kêu gọi phải tôn trọng những h́nh thức cổ điển nhất của công lư: công lư giao hoán, công lư phân phối và công lư pháp lư444. Càng ngày người ta càng coi trọng công lư xă hội445, là một tiến bộ thật sự trong công lư nói chung, tức là công lư nhằm điều hoà các quan hệ xă hội theo tiêu chuẩn tuân thủ luật pháp. Công lư xă hội – một đ̣i hỏi có liên quan tới vấn đề xă hội là vấn đề hiện nay đang có tầm mức rất rộng – liên quan đến các khía cạnh xă hội, chính trị và kinh tế, và đặc biệt liên quan đến khía cạnh cơ cấu của các vấn nạn và các giải pháp cho từng vấn nạn446.

202. Công lư trở nên quan trọng đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi giá trị riêng của con người, phẩm giá và quyền lợi của con người – dù đă được khẳng định nhiều – vẫn đang bị đe doạ trầm trọng bởi khuynh hướng phổ biến muốn áp dụng tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá, đó là có lợi và có quyền làm chủ hay không. Dựa trên những tiêu chuẩn này, người ta cũng xem xét công lư một cách hết sức giản lược. Đang khi đó khái niệm công lư được nhân học Kitô giáo hiểu một cách đầy đủ và trung thực hơn. Thật vậy, công lư không phải chỉ là một sự thoả thuận suông giữa con người với nhau, v́ muốn biết điều ǵ là “công lư” (nghĩa là phù hợp với đạo lư và lợi ích chung của xă hội), trước tiên chúng ta không dựa vào sự ấn định của lề luật, mà phải xem điều đó có phù hợp với bản chất sâu xa của con người hay không447.

203. Hiểu được sự thật trọn vẹn về con người sẽ giúp chúng ta vượt lên trên nhăn quan xem công lư như một hợp đồng không hơn không kém – một nhăn quan hết sức giản lược – đồng thời cũng mở ra cho công lư chân trời mới về liên đới và yêu thương. “Tự một ḿnh, có công lư thôi chưa đủ. Thật vậy, công lư có thể phản bội chính ḿnh trừ khi nó biết mở ra cho một sức mạnh sâu xa hơn, là bác ái”448. Thật vậy, học thuyết xă hội của Giáo Hội đặt giá trị của công lư song song với giá trị liên đới, coi đó là con đường đặc biệt dẫn tới hoà b́nh. Nếu hoà b́nh là kết quả của công lư th́ “ngày nay người ta cũng có thể nói một cách chính xác và mạnh mẽ không kém với cùng sức mạnh gợi ư của Thánh Kinh (x. Is 32,17; Gc 3,18) rằng ‘Hoà b́nh là thành quả của liên đới’ (Opus solidaritatis pax)449. Thật vậy, mục tiêu hoà b́nh “sẽ chắc chắn đạt được không những thông qua việc thi hành công lư xă hội và quốc tế, mà c̣n qua cách thực hành các đức tính nhằm cổ vũ sự đoàn kết và dạy chúng ta sống hợp nhất, cũng như xây dựng một xă hội mới và một thế giới tốt đẹp hơn bằng cách vừa trao ban vừa đón nhận”450.

VIII. CON ĐƯỜNG T̀NH YÊU

204. Giữa các đức tính nói chung, và đặc biệt giữa các đức tính, các giá trị xă hội và t́nh yêu, có một mối liên kết rất sâu xa mà chúng ta cần phải nhận thức càng ngày càng đầy đủ hơn. T́nh yêu thường bị giới hạn vào những quan hệ gần gũi thân xác hay bị thu hẹp vào những khía cạnh hoàn toàn chủ quan trong hành động v́ người khác; nay chúng ta cần phải nh́n lại t́nh yêu trong giá trị thật của nó, coi đó như tiêu chuẩn cao nhất và phổ quát nhất của toàn bộ nền đạo đức xă hội. Trong mọi con đường sống của nhân loại, kể cả những con đường đă được t́m kiếm và đón nhận để đáp ứng những vấn đề xă hội hiện hành, bằng những h́nh thức càng ngày càng mới mẻ, có một con đường “trổi vượt hẳn” (x. 1 Cr 12,31), đó chính là con đường mang đậm nét yêu thương.

205. Chính từ nguồn cội yêu thương sâu xa ấy mà các giá trị như sự thật, tự do và công lư đă khai sinh và phát triển. Đời sống con người trong xă hội có trật tự, sinh nhiều kết quả tốt và đáp ứng đúng phẩm giá con người khi đời sống ấy được xây dựng dựa trên sự thật; khi người ta sống cuộc sống ấy trong công lư, tức là biết tôn trọng các quyền hạn của con người cách cụ thể và trung thành thi hành các nghĩa vụ tương ứng; khi cuộc sống ấy được sinh động bởi ḷng vị tha, khiến người ta coi các nhu cầu và đ̣i hỏi của người khác là của ḿnh và khiến người ta tăng cường việc chia sẻ các giá trị thiêng liêng và quan tâm tới các nhu cầu vật chất; khi cuộc sống ấy được kiến tạo trong sự tự do thích hợp với phẩm giá con người, những người biết hành động theo bản tính lư trí của ḿnh, để dám nhận trách nhiệm về các hành vi của ḿnh451. Các giá trị trên đây tạo thành các cột trụ mang lại sức mạnh và sức bền cho toà nhà sự sống và các nghĩa cử phục vụ sự sống: chúng chính là những giá trị xác định phẩm chất của mọi hành động xă hội và mọi định chế xă hội.

206. T́nh yêu vừa giả thiết có công lư vừa vượt lên trên công lư, công lư “phải được hoàn tất trong bác ái”452. Nếu công lư “tự nó thích hợp cho chúng ta dựa vào mà phân xử giữa con người với nhau mỗi khi đụng chạm đến việc phân phối các thiện ích khách quan sao cho công bằng, th́ t́nh yêu và chỉ có t́nh yêu (bao gồm cả t́nh yêu nhân hậu mà chúng ta quen gọi là “ḷng thương xót”) mới có khả năng khôi phục con người trở lại với chính ḿnh”453. Các mối quan hệ giữa người với người không thể chỉ được xử lư bằng tiêu chuẩn công lư: “Kinh nghiệm trước đây và bây giờ chứng minh cho thấy chỉ ḿnh công lư mà thôi th́ không đủ, thậm chí có thể đi xa tới mức chối bỏ và huỷ hoại chính công lư nữa… Cũng chính kinh nghiệm lịch sử đă đưa người ta tới chỗ phải đưa ra câu cách ngôn sau: ‘càng đ̣i công lư, càng nhiều bất công’ (summum jus, summa injuria)”454. Thật vậy, “trong bất cứ lĩnh vực quan hệ liên vị nào, có thể nói, công lư phải được điều chỉnh thật nhiều bởi t́nh yêu, v́ như thánh Phaolô nói, t́nh yêu hay bác ái vốn ‘nhẫn nại và nhân hậu’ hoặc có thể nói, đó là t́nh yêu mang những đặc điểm của ḷng thương xót, là cốt tuỷ của Tin Mừng và của Kitô giáo”455.

207. Không có pháp chế nào, không có hệ thống luật lệ nào hay không có sự thương lượng nào sẽ thuyết phục được con người và các dân tộc sống trong sự hợp nhất, trong t́nh anh em và trong hoà b́nh; không có lư luận nào có thể trổi vượt hơn được sức thu hút của t́nh yêu. Chỉ có t́nh yêu, ngay trong đặc tính của nó là “mô thức của mọi đức tính456, mới có thể làm sinh động và định h́nh cho các sự tương tác trong xă hội, đưa chúng tới sự hoà hợp trong bối cảnh một thế giới ngày càng phức tạp. Tuy nhiên, để tất cả những điều này có thể xảy ra, cần lưu ư làm sao để không chỉ bày tỏ t́nh yêu trong vai tṛ thúc đẩy các hành vi cá nhân của nó, mà c̣n phải bày tỏ t́nh yêu thế nào cho người ta thấy đó là một sức mạnh có khả năng khơi gợi những cách tiếp cận mới mẻ các vấn đề của thế giới hôm nay, có khả năng đổi mới các cơ chế, các tổ chức xă hội, các hệ thống luật pháp cách sâu xa, từ bên trong. Trong viễn tượng đó, t́nh yêu mang dáng dấp đặc biệt của ḷng bác ái chính trị và xă hội: “Bác ái xă hội sẽ khiến chúng ta yêu quư công ích”457, thúc đẩy chúng ta nỗ lực t́m kiếm điều có ích cho hết mọi người, không chỉ là những con người cá thể riêng rẽ mà c̣n trong chiều hướng xă hội nối kết những con người ấy lại với nhau.

208. Bác ái chính trị và xă hội không chỉ diễn ra trong các mối quan hệ giữa các cá nhân, mà c̣n trải rộng vào trong mạng lưới do các quan hệ ấy làm nên, tức là cộng đồng chính trị và xă hội. Bác ái ấy can thiệp vào trong khuôn khổ đó bằng cách đi t́m điều lợi ích lớn nhất cho cộng đồng nói chung. Với nhiều khía cạnh như thế, người thân cận mà chúng ta yêu mến sẽ được chúng ta t́m gặp “trong chính xă hội”, nhờ đó chúng ta có thể yêu thương họ cách cụ thể, giúp đỡ họ trong những nhu cầu hay trong cơn túng thiếu, khác với cách chúng ta chỉ yêu thương họ trên b́nh diện quan hệ cá nhân với cá nhân. Yêu thương tha nhân trên b́nh diện xă hội có nghĩa là tuỳ theo hoàn cảnh mà sử dụng các trung gian xă hội để cải thiện đời sống của họ hoặc xoá bỏ những nhân tố xă hội đă gây ra cảnh túng thiếu ấy. Chắc chắn đây là một hành vi yêu thương, một việc làm tỏ ḷng thương xót, nhờ đó người ta có thể đáp ứng ngay lúc này và tại đây một nhu cầu thực sự và cấp bách của người thân cận. Nhưng đây cũng là một hành vi yêu thương rất cần thiết nhằm tổ chức và kiến trúc xă hội thế nào cho người thân cận của chúng ta không c̣n ở trong cảnh nghèo đói, điều này càng quan trọng khi đây là t́nh cảnh của vô số người hay thậm chí cả toàn thể một dân tộc đang phải tranh đấu, hay khi t́nh cảnh ấy mang tầm cỡ của một vấn đề xă hội toàn cầu thật sự.

PHẦN HAI

“… Giáo huấn xă hội của Giáo Hội tự nó là một công cụ hữu hiệu để loan báo Tin Mừng. Thật thế, giáo huấn ấy công bố cho mọi người biết Thiên Chúa và mầu nhiệm cứu độ của Ngài trong Đức Kitô, và cũng nhờ đó, mạc khải cho con người biết chính ḿnh. Trong ánh sáng ấy, và chỉ trong ánh sáng ấy, giáo huấn này đề cập đến hết mọi điều: nhân quyền của mỗi người, đặc biệt của “giai cấp lao động”, gia đ́nh và giáo dục, các bổn phận của Nhà Nước, trật tự của quốc gia và quốc tế, đời sống kinh tế, văn hoá, chiến tranh và hoà b́nh, cũng như việc tôn trọng sự sống từ khi thụ thai cho đến lúc ĺa đời”.

(Centesimus Annus 54)


CHƯƠNG NĂM

GIA Đ̀NH,

TẾ BÀO SỐNG ĐỘNG CỦA XĂ HỘI

I. GIA Đ̀NH, XĂ HỘI TỰ NHIÊN ĐẦU TIÊN

209. Tầm quan trọng và vị trí trung tâm của gia đ́nh so với con người và xă hội là những điều thường xuyên được Thánh Kinh nhấn mạnh. “Con người ở một ḿnh không tốt” (St 2,18). Đọc các bản văn tường thuật việc tạo dựng con người (x. St 1,26-28; 2,7-24), chúng ta mới hiểu làm thế nào – theo kế hoạch của Thiên Chúa – Ađam và Eva trở thành “h́nh thức hiệp thông đầu tiên giữa con người với nhau”458. Eva được tạo dựng giống Ađam như người sẽ làm cho Ađam được hoàn bị trong tính chất khác biệt của ḿnh (x. St 2,18) để cùng với Ađam làm thành “một xương một thịt” (St 2,24; x. Mt 19,5-6)459. Đồng thời, cả hai cùng tham gia vào việc sinh sản, khiến họ trở thành người cộng sự với Đấng Tạo Hoá: “Hăy sinh sôi nảy nở thật nhiều, làm cho đầy mặt đất” (St 1,28). Trong kế hoạch của Đấng Tạo Hoá, gia đ́nh được coi là “nơi đầu tiên diễn ra quá tŕnh ‘nhân hoá’ cá nhân và xă hội”, là “chiếc nôi của sự sống và t́nh yêu”460.

210. Chính trong gia đ́nh, người ta học biết thế nào là t́nh yêu và ḷng trung thành của Thiên Chúa, và nhu cầu phải đáp lại t́nh yêu và ḷng trung thành đó (x. Xh 12,25-27; 13,8.14-15; Đnl 6,20-25; 13,7-11; 1 Sm 3,13). Gia đ́nh chính là nơi con cái học những bài học đầu tiên và quan trọng nhất về sự khôn ngoan thiết thực, một sự khôn ngoan có liên quan đến các đức tính (x. Cn 1,8-9; 4,1-4; 6, 20-21; Hc 3,1-16; 7,27-28). Chính v́ lư do này mà Thiên Chúa đă đích thân đứng ra bảo đảm cho t́nh yêu và sự trung tín của vợ chồng trong đời sống hôn nhân (x. Ml 2,14-15).

Đức Giêsu được sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh cụ thể, chấp nhận những đặc điểm của gia đ́nh461 và đem lại cho định chế gia đ́nh phẩm giá cao quư nhất, đó là biến gia đ́nh thành một bí tích của giao ước mới (x. Mt 19,3-9). Vợ chồng t́m được phẩm giá sung măn của ḿnh, cũng như gia đ́nh t́m được nền tảng vững chắc cho ḿnh là nhờ đặt trong viễn tượng mới mẻ ấy.

211. Được thông điệp Thánh Kinh chói ngời ấy soi sáng, Giáo Hội coi gia đ́nh như là xă hội tự nhiên đầu tiên, với những quyền lợi tự nhiên riêng của gia đ́nh, đồng thời đặt gia đ́nh làm trung tâm đời sống xă hội. Đẩy gia đ́nh vào “một vai tṛ phụ thuộc hay thứ yếu, loại gia đ́nh khỏi vị trí đúng đắn của nó trong xă hội sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho sự phát triển thật sự của toàn thể xă hội”462. Thật vậy, gia đ́nh được khai sinh từ sự hiệp thông thân t́nh trong cuộc sống và trong t́nh yêu, dựa trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ463. Gia đ́nh vốn có chiều hướng xă hội riêng biệt và độc đáo, đó là nơi chủ yếu diễn ra các mối quan hệ liên vị, là tế bào đầu tiên và sống động của xă hội464. Gia đ́nh là một định chế thần linh làm nền tảng cho cuộc sống con người, là nguyên mẫu đầu tiên của mọi tổ chức xă hội.

a. Gia đ́nh quan trọng đối với con người

212. Gia đ́nh có một tầm quan trọng cốt yếu liên quan đến con người. Chính trong chiếc nôi cuộc sống và t́nh yêu này mà con người được sinh ra lớn lên. Khi một đứa trẻ được thụ thai, xă hội tiếp nhận được một món quà là một con người mới, con người này được mời gọi “từ trong nơi sâu thẳm nhất của chính ḿnh để hiệp thông với những con người khác và trao ban bản thân ḿnh cho những con người khác”465. Bởi đó, chính trong gia đ́nh mà việc hiến thân cho nhau giữa người đàn ông và người đàn bà được liên kết trong hôn nhân tạo nên một môi trường sống, trong đó con cái “phát triển các tiềm năng của ḿnh, ư thức về phẩm giá của ḿnh và chuẩn bị đối mặt với định mệnh độc đáo và duy nhất của ḿnh”466.

Trong bầu khí thân mật tự nhiên ấy, nối kết mọi người trong gia đ́nh lại với nhau, mỗi người được nh́n nhận và học biết trách nhiệm của ḿnh trong toàn bộ cuộc đời ḿnh. “Cơ cấu đầu tiên và căn bản làm nên ‘môi sinh nhân loại’ chính là gia đ́nh, trong đó con người tiếp nhận những ư tưởng đầu tiên mang tính giáo dục về sự thật và sự tốt lành, cũng như học được thế nào là yêu và được yêu, và từ đó biết được làm người thực ra là ǵ”467. Thật vậy, các bổn phận của mỗi người trong gia đ́nh không chỉ dừng lại với những ǵ được quy định trong một hợp đồng, mà rút ra từ chính bản chất của gia đ́nh, dựa trên giao ước hôn nhân không thể thay đổi và dựa trên cơ cấu có sẵn trong các mối quan hệ, xuất hiện trong gia đ́nh kể từ khi sinh con hay nhận con.

b. Gia đ́nh quan trọng đối với xă hội

213. Gia đ́nh, một cộng đồng tự nhiên trong đó người ta nghiệm ra bản tính xă hội của ḿnh, chính là một đóng góp độc nhất vô nhị, không thể thay thế được, cho ích lợi xă hội. Thật vậy, đơn vị gia đ́nh được sinh ra do sự hiệp thông giữa các ngôi vị. “‘Hiệp thông’ là một điều có liên hệ tới quan hệ ngôi vị giữa ‘tôi’ và ‘anh’. Nhưng ‘cộng đồng’ lại là một điều vượt lên trên khuôn khổ ấy, hướng tới một ‘xă hội’, hướng tới ‘chúng ta’. Thế nên, trong tư cách là một cộng đồng các ngôi vị, gia đ́nh đúng là ‘xă hội’ đầu tiên của con người”468.

Một xă hội xây dựng trên gia đ́nh chính là một sự bảo đảm tốt nhất cho xă hội khỏi bị cuốn hút theo chủ nghĩa cá nhân hay chủ nghĩa tập thể, v́ chỉ trong gia đ́nh, con người mới luôn luôn là trung tâm của mọi sự quan tâm, con người được coi như một mục tiêu chứ không bao giờ bị coi như một phương tiện. Rơ ràng là ích lợi của cá nhân và sự vận hành tốt đẹp của xă hội đều có liên quan mật thiết với “t́nh trạng lành mạnh của đời sống hôn nhân và gia đ́nh”469. Không có những gia đ́nh hiệp thông mạnh mẽ và cam kết ổn định th́ các dân tộc sẽ trở nên yếu kém. Trong gia đ́nh, các giá trị luân lư được dạy dỗ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc đời, cũng như di sản thiêng liêng của cộng đồng tôn giáo và di sản văn hoá của quốc gia được lưu truyền. Trong gia đ́nh, người ta học biết trách nhiệm xă hội và t́nh liên đới470.

214. Gia đ́nh phải được đặt trên xă hội và quốc gia: đó là một điều cần phải được khẳng định. Thật vậy, ít là trong chức năng sinh sản, gia đ́nh chính là điều kiện để cho xă hội và quốc gia tồn tại. C̣n đối với các chức năng khác có lợi cho mỗi người trong gia đ́nh, gia đ́nh sẽ giúp làm tăng giá trị và tầm quan trọng cho các chức năng mà xă hội và quốc gia được mời gọi để chu toàn471. Gia đ́nh có những quyền lợi bất khả xâm phạm và những quyền lợi ấy được coi là chính đáng, đó là do bản tính con người chứ không phải do được Nhà Nước nh́n nhận. V́ thế, gia đ́nh không hiện hữu v́ xă hội hay quốc gia, nhưng xă hội hay quốc gia hiện hữu v́ gia đ́nh

Mô h́nh xă hội nào muốn phục vụ ích lợi của con người đều không được xem nhẹ vai tṛ trung tâm và trách nhiệm xă hội của gia đ́nh. Khi liên hệ với gia đ́nh, xă hội và quốc gia có nghĩa vụ nặng nề là tuân thủ nguyên tắc bổ trợ. Theo nguyên tắc ấy, chính quyền không được lấy khỏi gia đ́nh những nhiệm vụ mà gia đ́nh có thể hoàn thành tốt, một ḿnh hay liên kết tự nguyện với các gia đ́nh khác, đồng thời phải bảo đảm cho gia đ́nh được mọi sự hỗ trợ cần thiết để chu toàn đúng đắn các trách nhiệm của ḿnh472.

II. HÔN NHÂN, NỀN TẢNG CỦA GIA Đ̀NH

a. Giá trị của hôn nhân

215. Gia đ́nh đặt nền tảng trên sự lựa chọn tự do của hai vợ chồng muốn kết hợp với nhau trong hôn nhân, đồng thời trên sự tôn trọng ư nghĩa và các giá trị của định chế này, một định chế không tuỳ thuộc con người mà tuỳ thuộc chính Thiên Chúa: “V́ ích lợi của vợ chồng và con cái, cũng như v́ ích lợi của xă hội, dây liên kết linh thiêng này không c̣n tuỳ thuộc một ḿnh quyết định của con người nữa. Chính Thiên Chúa là tác giả của cuộc hôn nhân; Ngài đă ban cho hôn nhân những ơn ích và mục tiêu khác nhau”473. Bởi đó, định chế hôn nhân – tức là “sự cộng tác thân mật trong sự sống và t́nh yêu… do Đấng Tạo Hoá thiết lập và đă đ